Pháo tự động

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pháo tự động M242 25mm Bushmaster gắn trên xe bọc thép M2 Bradley.

Pháo tự động là loại súng có quá trình nạp đạn và thực hiện các phát bắn tiếp theo nhờ năng lượng khí thuốc hoặc năng lượng khác (điện...), không cần thao tác của con người. Pháo tự động có tốc độ bắn lớn, chủ yếu sử dụng để sát thương các mục tiêu có tính cơ động cao trên mặt đất, mặt nước và trên không. Súng thường bắn các loại đạn lớn hơn các loại đạn của súng máy (từ 20 mm trở lên). Thường thì pháo tự động nhỏ hơn các loại pháo dã chiến hay các loại pháo khác. Chúng có thể sử dụng nhiều loại đạn khác nhau như: Các loại đạn thông thường, đạn nổ mạnh hay các loại đạn xuyên giáp.

Mặc dù có tốc độ bắn cao nhưng pháo tự động sẽ nhanh chóng bị quá tải nhiệt nếu bắn liên tục và số lượng đạn bị giới hạn tùy nơi mà chúng được bố trí. Các loại pháo nòng xoay có thể bắn với tốc độ cao và hạn chế việc bị quá tải nhiệt. Tuy nhiên yêu cầu tốc độ bắn cao chỉ cần cho các loại pháo dùng để phòng không hay sử dụng trong các cuộc không chiến.

Một loại tương tự với pháo tự động là súng phóng lựu tự động. Loại này thường được gắn trên các bệ chống ba chân hay trên các phương tiện cơ giới, chúng bắn các loại đạn nổ với tốc độ bắn cao. Nhưng chúng nhỏ, nhẹ và phóng các loại đạn nổ với sơ tốc rất thấp và tầm hoạt động rất ngắn so với các loại pháo.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu Puckle của James Puckle

Khẩu Puckle do James Puckle giới thiệu tại Luân Đôn trong thế kỷ 18 là tiền thân của pháo tự động hiện đại. Nó có một bệ chống ba chân nặng với một nòng duy nhất và ổ đạn xoay với 9 viên. nó sử dụng một tay quay để quay ổ đạn và bắn khi ổ đạn khớp với nòng. Mặc dù loại súng này có tốc độ bắn và tốc độ nạp đạn cao hơn so với bất kỳ loại súng hỏa mai đánh lửa vào thời đó nhưng nó lại không thu hút được sự quan tâm của quân đội Anh hay bất kỳ nhà đầu tư nào. Các nỗ lực ban đầu của các loại súng có tốc độ bắn nhanh đã không thu hút được sự chú ý để sử dụng rộng rãi vì giới hạn công nghệ như việc quá khó để bảo quản và sửa chữa. Các loại súng này không được phát triển tiếp cho đến thế kỷ 19 khi mà các cách nạp đạn nhanh như vỏ đạn được phát triển cho phép mang nhiều đạn và thuốc súng không khói được sử dụng thì nhu cầu về các loại súng có tốc độ bắn nhanh bắt đầu xuất hiên.

Khẩu QF 1 pounder

Khẩu pháo tự động hiện đại đầu tiên là khẩu QF 1 pounder của Anh còn được gọi là "pom-pom". Về bản chất thì nó là bản phóng lớn của khẩu súng máy hạng nặng Maxim loại súng máy tự động thành công đầu tiên với khả năng tự động nạp đạn mà không cần con người tác động vào. Khẩu pom-pom bắn loại đạn nổ nặng 1 pounder với tốc độ 200 viên/phút, nhanh hơn nhiều so với các loại pháo thông thường trong khi tầm bắn và hỏa lực mạnh hơn súng trường.

Trong chiến tranh thế giới thứ nhất pháo tự động thường được dùng nhiều với vai trò như các loại pháo phòng không. Khẩu pom-pom đã được sử dụng để chống lại các khí cầu Zeppelin của Đức thường hay ném bom Luân Đôn. Nhưng chúng rất ít hiệu quả vì các đầu đạn thường không thể đâm xuyên vào khinh khí cầu hay phát nổ trước khi chạm vào bề mặt của khinh khí cầu. Những nỗ lực để để sử dụng chúng trên các máy bay có các thành công hạn chế. Khẩu QF 2 pounder hiệu quả hơn đã được sử dụng trong hải quân để phòng không cũng như dùng trong các cuộc hải chiến hay hỗ trợ mặt đất.

Khẩu Bofors 40 mm

Pháo tự động được sử dụng rất rộng rãi trong chiến tranh thế giới thứ hai. Các máy bay làm bằng các vật liệu nặng nề và dễ gãy được thay bằng các máy bay làm bằng hợp kim nhẹ, bền và có tốc độ di chuyển cao, việc đó khiến súng máy không còn đủ tầm hoạt động và hỏa lực để bắn hạ chúng. Các loại pháo tự động như Oerlikon 20 mmBofors 40 mm đã được dùng rộng rãi trong chiến tranh không chỉ để phòng không mà còn dùng để bắn các mục tiêu dưới đất.

Xe tăng Panzer II của Đức vốn được sử dụng với số lượng lớn trong cuộc tấn công Ba Lantrận chiến nước Pháp đã sử dụng pháo tự động 20 mm làm vũ khí chính. Các loại xe tăng khác cũng được trang bị pháo tự động làm vũ khí chính như L6/40 (1939) của Ý hay T-60 của Liên Xô (1941). Mặc dù không hiệu quả với giáp xe tăng ngay cả trong những năm đầu của chiến tranh chúng vẫn có thể đâm xuyên lớp giáp trước của các xe tăng nếu tấn công trong phạm vi gần. Pháo tự động rất hiệu quả khi chống lại các phương tiện cơ giới bọc giáp nhẹ cũng như bộ binh. Chúng được gắn nhiều trên các xe bọc thép bánh hơi vì chúng nhanh cơ động trong việc tác chiến.

Khẩu GSh-6-30

Pháo tự động cũng đã thay thế các loại súng máy trên các máy bay tiêm kích. Nơi mà vũ khí phải đủ mạnh để xuyên thủng và phá hủy với tỉ lệ cao những điểm nguy hiểm trên các máy bay như thùng nhiên liệu hay buồng lái để có thể bắn rơi chúng. Với cỡ đạn lớn pháo có thể phá hủy một vùng lớn cấu trúc máy bay nếu nó bắn trúng. Cũng như thế pháo có thể tấn công và phá hủy các mục tiêu dưới đất một cách hiệu quả. Đến cuối chiến tranh thì hầu như các máy bay đều đước trang bị pháo các loại ngoại trừ những máy bay vốn đã được trang bị súng máy hạng nặng cỡ nòng hơn 12,7 mm.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai pháo tự động vẫn được dùng nhiều như một loại vũ khí đa năng trên đất liền, trên không hay trên tàu. Pháo tự động được trang bị rộng rãi cho các xe bọc thép chở quân vì chúng có tốc độ di chuyển cao so với các loại xe bọc thép khác có thể dễ dàng tác chiến cũng như phải có khả năng tự vệ với các mối đe dọa khác để bảo vệ binh lính đang ở bên trong. Một loại vũ khí mạnh như pháo nhưng nhỏ, nhẹ và có tốc độ bắn cao là cần thiết. Các loại đạn cũng được thiết kế để dùng cho các trường hợp khác nhau như đạn nổ mảnh để chống lại bộ binh hay đạn xuyên giáp để chống lại các phương tiện bọc giáp khác. Các loại pháo nòng xoay như M61 Vulcan hay GSh-6-30 cũng được phát triển để tăng tốc độ bắn cũng như tránh bị quá tải nhiệt quá nhanh. Chúng cũng được sử dụng trong hệ thống chiến đấu tầm gần của các tàu chiến để chống lại các tên lửa hay máy bay hoạt động ở tầm thấp.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alvi, M. A., Rahman, Abdur, Fathullah Shirazi: A Sixteenth Century Indian Scientist, National Commission for the Compilation of History of Sciences of India, National Institute of Sciences of India, 1968.
  • Department of the Army. Ballistic Data Performance of Ammunition, TM 9-1907. Washington, D.C.: Government Printing Office, 1948.
  • Williams, Anthony G. Rapid Fire. Shrewsbury: Airlife Publishing Ltd., 2000. ISBN 1-84037-435-7.