Trận đánh Nhân Xuyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận đánh Nhân Xuyên
Một phần của Chiến tranh Triều Tiên
Battle of Inchon.png
Bốn Dương vận hạm đổ bộ binh sĩ và các trang bị trên Bờ biển Đỏ (Red Beach) một ngày sau khi có các cuộc đổ bộ từ biển vào bờ tại Nam Triều Tiên.
.
Thời gian 15 tháng 919 tháng 9 năm 1950
Địa điểm Incheon, Nam Triều Tiên
Kết quả Chiến thắng quyết định của Liên Hiệp Quốc
Tham chiến
Flag of the United Nations.svgLiên Hiệp Quốc Flag of North Korea.svg CHDCND Triều Tiên
Chỉ huy
Flag of the United Nations.svgDouglas MacArthur
Hoa Kỳ Arthur Dewey Struble
Hoa Kỳ Chesty Puller
Flag of North Korea.svgKim Nhật Thành
Flag of North Korea.svgChoi Yong-Kun
.

Trận đánh Nhân Xuyên (tiếng Triều Tiên:인천 상륙 작전; tiếng Anh: Battle of Incheon; mật danh: Chiến dịch Chromite) là một trận đánh có tính quyết định trong Chiến tranh Triều Tiên.

Trận đánh bắt đầu vào ngày 15 tháng 9 năm 1950 và kết thúc khoảng 28 tháng 9. Trong chiến dịch đổ bộ từ biển vào bờ, các lực lượng Liên Hiệp Quốc (UN) đã chiếm giữ được Incheon và phá được vòng vây ra khỏi vùng Vành đai Pusan qua một loạt những lần đổ bộ trong lãnh thổ địch chiếm đóng. Đa số các lực lượng bộ binh Liên Hiệp Quốc tham gia trong trận công phá này là Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ dưới quyền tư lệnh của Thống tướng Douglas MacArthur.

Trận đánh Inchon kết thúc một loạt các chiến thắng liên tiếp của Quân đội Nhân dân Triều Tiên xâm lấn và bắt đầu một cuộc phản công của các lực lượng Liên Hiệp Quốc dẫn đến việc tái chiếm Seoul. Cuộc tiến công về Bắc Triều Tiên kết thúc gần sông Áp Lục khi Quân chí nguyện của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cảm thấy bị đe dọa bởi việc mất hoàn toàn Triều Tiên, nhảy vào cuộc xung đột bằng việc khai triển khoảng 150.000 quân Trung Hoa để hỗ trợ Bắc Triều Tiên tràn ngập các lực lượng Liên Hiệp Quốc dọc sông Thanh Xuyên và buộc một cuộc tháo lui của các lực lượng Liên Hiệp Quốc về Nam Triều Tiên sau Trận đánh hồ Trường Tân.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Kế hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Douglas MacArthur (giữa) nắm vai Tham mưu trưởng Lục quân J. Lawton Collins (trái) và Đô đốc Forrest P. Sherman (phải). MacArthur dùng cuộc họp của họ để thuyết phục các lãnh đạo quân sự khác rằng cuộc tiến công vào Inchon là cần thiết.

Ý tưởng đổ bộ các lực lượng Liên Hiệp Quốc tại Inchon đã được Tướng Douglas MacArthur đề nghị sau khi ông viếng thăm chiến trường Triều Tiên vào ngày 29 tháng 6 năm 1950, bốn ngày sau khi chiến tranh bắt đầu. MacArthur nghĩ rằng quân đội Bắc Triều Tiên sẽ đẩy quân đội Nam Triều Tiên ngược xa về phía sau khỏi Seoul. Ông quả quyết rằng quân đội Nam Triều Tiên thiếu trang bị, không có tinh thần và bị đánh tan tác không thể nào kiềm chân được sự tiến công của quân đội Bắc Triều Tiên thậm chí có viện quân của Hoa Kỳ. MacArthur cảm thấy rằng ông có thể xoay được tình thế nếu như ông di chuyển quân đội một cách dứt khoát về phía sau chiến tuyến của quân địch. Ông hy vọng rằng một cuộc đổ bộ gần Inchon sẽ cho phép ông cắt đứt Quân đội Bắc Triều Tiên và tiêu diệt quân đội đó để nó không còn là một lực lượng chiến đấu hữu dụng nữa, như thế sẽ chiến thắng cuộc chiến.

Để hoàn thành một chiến dịch đổ bộ từ biển vào bờ lớn như vậy, MacArthur yêu cầu được sử dụng các lực lượng viễn chinh của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ là các lực lượng đã quen với các khả năng tiến hành các chiến dịch đổ bộ từ biển vào bờ trong Chiến tranh Thái Bình Dương thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, Thủy quân lục chiến vào thời điểm đó vẫn đang trong tình trạng phục hồi sau các loạt cắt giảm chương trình trầm trọng khởi xướng bởi chính phủ của Tổng thống Harry S. TrumanBộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Louis A. Johnson. Thật thế, Johnson đã cố dẹp bỏ Thủy quân lục chiến hoàn toàn và đã cắt giảm các lực lượng viễn chinh Thủy quân lục chiến từ con số đỉnh trong Chiến tranh thế giới thứ hai là 300.000 người xuống chỉ còn trên 27.000. Nhiều quân vận đỉnh (landing craft) và quân vận xa đổ bộ (amphibious carriers) bị bán, bị tháo rời lấy sắt vụn, hoặc được đặc chuyển cho Quân đội Hoa Kỳ sử dụng. Sau khi tái trang bị vội vã lực lượng Thủy quân lục chiến với các quân vận đỉnh lỗi thời từ Chiến tranh thế giới thứ hai, rút các đơn vị Thủy quân lục chiến khỏi Vành đai Pusan, và lấy hết người của các trung tâm tuyển mộ, các tư lệnh Thủy quân lục chiến mới có thể xây lại một lực lượng có thể đảm đương các chiến dịch chủ động tiến công.[1][2]

Kế hoạch ban đầu gặp phải sự nghi ngờ từ những tướng lãnh khác vì phòng tuyến nhân tạo và tự nhiên đều ghê gớm. Đường áp sát vào Inchon là hai lối rất giới hạn, đó là Eo biển Phi Ngư (Flying Fish Channel) và Eo biển Đông (Eastern Channel) dễ vướn phải bãi mìn. Thủy triều của hai eo biển này nhanh và rất nguy hiểm. Cuối cùng, khu neo tàu nhỏ và bến cảng bị bao quanh với đê biển. Trung tá hải quân Arlie G. Capps ghi nhận "Chúng tôi đã thảo một danh sách gồm các trở ngại địa lý và tự nhiên - và Inchon có tất cả mọi thứ."

Các vấn đề này cùng với vấn đề quân đội Bắc Triều Tiên đang tiến công bắt buộc MacArthur bỏ kế hoạch đầu tiên của ông là Chiến dịch Bluehearts mà trong đó dự định một cuộc đổ bộ lên Inchon tháng 7 năm 1950.

Vào tháng 9, dù các chướng ngại như thế, MacArthur đưa ra một kế hoạch đã được chỉnh lại cho một cuộc tấn công vào Inchon: Kế hoạch 100-B, mã danh là Chiến dịch Chromite. Một cuộc họp ngắn do Đô đốc James Doyle tổ chức kết luận rằng "điều tốt nhất mà tôi có thể nói là Inchon không phải là không thể." Các sĩ quan tại buổi họp ngắn này đã dành nhiều thời gian của họ để hỏi về những nơi đổ bộ khác chẳng hạn như Kunsan. MacArthur dành 45 phút sau khi họp giải thích các lý do ông chọn Inchon. Ông nói vì nó được phòng thủ chặt chẻ, kẻ địch sẽ không ngờ một cuộc tấn công nơi đó, rằng chiến thắng tại Inchon sẽ tránh một chiến dịch mùa đông ác nghiệt, và rằng, bằng cách xâm nhập một điểm mạnh của miền bắc, các lực lượng Liên Hiệp Quốc có thể cắt đứt các đường thông tin liên lạc và vận chuyển tiếp liệu của Bắc Triều Tiên. Inchon được chọn cũng vì nó nằm gần Seoul. Đô đốc Forrest P. Sherman và Tướng J. Lawton Collins trở về Washington, D.C. để trình kế hoạch đổ bộ và xin lệnh chấp thuận.

Cuộc đổ bộ tại Inchon không phải là một chiến dịch đổ bộ từ biển vào bờ qui mô lớn đầu tiên kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc đổ bộ khác là cuộc đổ bộ tại ngày 18 tháng 7 năm 1950 tại Pohang. Tuy nhiên, chiến dịch đó không phải thực hiện trong lãnh thổ quân địchh chiếm giữ và cũng không có đụng trận.[3]

Trước khi đổ bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:M26 Pershing.jpg
Xe tăng M26 Pershing có lợi thế hơn xe tăng T-34 của Trung Hoa và Bắc Triều Tiên tại Inchon.

Bãy ngày trước cuộc tấn công chính tại Inchon, một cuộc thám thính hỗn hợp Cục Tình báo Trung ươngtình báo quân đội có mật danh Trudy Jackson đã đưa một toán du kích quân vào Inchon. Toán này được Đại úy hải quân Eugene Clark chỉ huy và đổ bộ tại Yonghung-do, một hòn đảo trước mặt bến cảng. Từ đó, họ tiếp vận tin tình báo trở về các lực lượng Hoa Kỳ.

Với sự giúp đỡ của dân địa phương, các du kích quân thu lợm thông tin về thủy triều, bãi lầy, đê biển và các vị trí cố thủ của quân địch. Sự góp phần quan trọng nhất vào sứ mệnh này là việc khởi động lại một hải đăng trên Palmi-do. Khi quân Bắc Triều Tiên phát giác ra rằng các đặc viên đồng minh đã vào bán đảo, họ phái một thuyền vũ trang tấn công cùng 16 binh sĩ. Eugene Clark đặt súng máy trên một chiếc xuồng nhỏ và đánh chìm chiếc thuyền tấn công. Để trả đủa, Bắc Triều Tiên giết chết trên 50 thường dân vì họ đã giúp cho Clark.

Một loạt các cuộc tập trận và thử nghiệm được tiến hành khắp nơi trên duyên hải Triều Tiên nơi có các điều kiện tương tự với Inchon trước khi có một cuộc đổ bộ thực sự. Các cuộc tập trận được sử dụng để tính toán thời gian và hiệu xuất của các quân vận đỉnh (landing craft).[3]

Khi các toán đổ bộ gần đến nơi, các tuần dương hạmkhu trục hạm từ hải quân các nước của Liên Hiệp Quốc khai hỏa vào Wolmi-do và rà phá mìn bẫy ở Eo biển Phi Ngư (Flying Fish Channel). Các lực lượng Canada đầu tiên tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên khi các chiến hạm HMCS Cayuga, HMCS AthabaskanHMCS Sioux bắn phá bờ biển. Lực lượng nhanh Hàng không mẫu hạm (Fast Carrier Force) thực hiện các phi vụ không yểm, ngăn chặn, và tấn công mặt đất. Hải đoàn 9 Khu trục hạm (Destroyer Squadron Nine) đi đầu là USS Mansfield tiến vào Eo biển Đông và vào Bến cảng Inchon, khai hỏa vào các ụ súng lớn của quân địch. Các cuộc tấn công làm cho Bắc Triều Tiên tin rằng một cuộc đổ bộ có lẽ là sắp xảy ra. Viên sĩ quan trấn đóng tại Wolmi-do bảo đảm cấp trên của ông là ông sẽ quăng quân thù ngược ra biển.

Trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Inchon landing map.jpg
Đại úy Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ Baldomero Lopez trong hình đang leo qua một đê biển sau khi đổ bộ trên Bãi Đỏ (Red Beach) ngày 15 tháng 9. Vài phút sau bức hình được chụp, Lopez bị tử thương sau khi hứng trọn một quả lựu đạn nổ ngay bên mình.[4] Ông được tặng Huân chương Vinh dự sau khi chết.

Hải đoàn tàu đổ bộ trong trận đánh này do Arthur Dewey Struble chỉ huy. Ông là một người chuyên trách về chiến tranh đổ bộ. Struble đã tham gia vào các chiến dịch đổ bộ từ biển vào bờ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bao gồm Trận đánh LeyteTrận đánh Normandy.[5]

Bãi Xanh lá[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc 06:30 sáng ngày 15 tháng 9 năm 1950, các phần tử đi đầu của Quân đoàn X Lục quân Hoa Kỳ tới "Bãi Xanh lá" (Green Beach) thuộc phần phía bắc của Đảo Wolmi-Do. Lực lượng đổ bộ gồm có Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 5, Thủy quân Lục chiến và 9 xe tăng M26 Pershing từ Tiểu đoàn 1 Xe tăng. Một xe tăng có trang bị một súng phun lửa (xe tăng phun lửa) và 2 chiếc khác có lưỡi xe ủi đất (bulldozer). Toán chiếu đấu đổ bộ bằng Dương vận hạm (Landing ship, tank) được thiết kế và đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945). Toàn bộ đảo bị chiếm vào trưa với giá phải trả là 14 thương vong.[6] Thương vong của Bắc Triều Tiên gồm có trên 200 chết và 136 bị bắt, đa số là thuộc Trung đoàn 918 Pháo binh Bắc Triều TiênTrung đoàn 226 Thủy quân lục chiến độc lập Bắc Triều Tiên. Các lực lượng trên Bãi Xanh lá phải chờ thủy triều lên để toán quân khác có thể đổ bộ cho đến 19:50. Trong thời gian này, các đợt oanh tạc và pháo kích dữ dội cùng với mìn chống tăng tuôn vào cây cầu duy nhất để giữ không cho quân Bắc Triều Tiên mở một cuộc phản công đáng kể. Đợt hai tiến vào bờ ở Bãi Đỏ (Red Beach) và Bãi Xanh biển (Blue Beach).

Quân đội Bắc Triều Tiên đã không ngờ một cuộc đổ bộ lên Inchon. Sau cuộc tấn công tràn ngập Bãi Xanh lá, Quân đội Nhân dân Triều Tiên tưởng rằng (có lẽ vì cố tình ngụy tạo thông tin của lực lượng chống tình báo Mỹ) cuộc tấn công đổ bộ chính sẽ xảy ra tại Kunsan. Kết quả là, chỉ có một lực lượng nhỏ được điều động đến Inchon. Thậm chí những lực lượng đó còn tới đó trễ nữa, và họ đến đó sau khi các lực lượng Liên Hiệp Quốc đã chiếm được Bãi Xanh biển và Bãi Đỏ. Các binh sĩ đóng tại Inchon trước đây đã bị nhóm du kích của Clark làm suy yếu, và các vụ oanh tạc bằng bom napalm đã thiêu hủy các kho đạn dược chính. Tổng cộng có 261 tàu tham chiến.

Bãi Đỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Các lực lượng Bãi Đỏ gồm có Đội chiến đấu 5 thuộc Trung đoàn 5 Thủy quân lục chiến sử dụng thang để leo lên các đê biển. Sau khi vô hiệu hóa hàng phòng thủ của Bắc Triều Tiên, họ mở thông đường đê đến Wolmi-Do, cho phép các xe tăng từ Bờ Xanh lá nhập trận. Các lực lượng trên Bãi Đỏ thiệt hại 8 người và 28 bị thương.

Bãi Xanh biển[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới quyền tư lệnh của Đại tá Lewis "Chesty" Puller, Trung đoàn 1 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ tại Bãi Xanh biển hơi xa về phía nam của hai bãi kia và vào đến bờ biển cuối cùng. Khi họ đến bờ biển, các hỏa lực phối hợp của các ụ súng của Bắc Triều Tiên đã đánh chìm một Dương vận hạm (Landing Ship, Tank). Hỏa lực của các Tuần dương hạm và các đợt oanh tạc đã làm tắt tiếng quân phòng thủ Bắc Triều Tiên. Cuối cùng khi họ đến thì các lực lượng Bắc Triều Tiên tại Inchon đã đầu hàng, vì vậy lực lượng tại Bãi Xanh biển thiệt hại một vài thương vong và gặp ít phản kháng. Trung đoàn 1 Thủy quân lục chiến dành nhiều thời gian củng cố bãi đổ bộ (beachhead) và chuẩn bị cho một cuộc tiến công sâu vào đất liền.

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Bãi đổ bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi sự chống trả của Bắc Triều Tiên bị dập tắc tại Inchon, việc tiến hành tiếp liệu và viện quân bắt đầu. Các tiểu đoàn xây dựng của Hải quân (Seabee) và các Toán Phá mìn Dưới nước (Underwater Demolition Team) đến cùng với Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ xây một bến nổi trên Bãi Xanh lá và thu dọn chướng ngại vật dưới nước. Bến nổi sau đó được dùng để dở hàng còn lại trên các dương vận hạm.

Các tài liệu được Kim Nhật Thành viết và bị quân Liên Hiệp Quốc thu được ngay sau khi cuộc đổ bộ nói rằng, "Kế hoạch ban đầu là kết thúc cuộc chiến trong một tháng, chúng ta đã không thể giẩm nát bốn sư đoàn của Mỹ...Chúng ta bị bất ngờ khi quân đội Liên Hiệp Quốc và các lực lượng Hải quân và Không quân Mỹ tiến vào."

Ngày 16 tháng 9, quân Bắc Triều Tiên, nhận thấy điều sai lầm của mình, đã đưa sáu hàng xe tăng T-34 đến bãi đổ bộ. Để đối phó, hai phi đội F4U Corsair thuộc phi đoàn VMF-214 dội bom đoàn xe tăng tấn công. Đợt không kích gây thiệt hại hoặc phá hủy phân nữa số xe tăng và mất một phi cơ. Một đợt phản công nhanh của các xe tăng M26 Pershing phá hủy phần còn lại của sư đoàn cơ giới Bắc Triều Tiên và thông đường cho việc chiếm Inchon.

Ngày 19 tháng 9, Đoàn Kỹ sư Công binh Hoa Kỳ sửa chữa đường xe lửa địa phương một đoạn dài 8 dặm Anh (13 km) vào đất liền. Phi trường Gimpo bị chiếm và các vận tải cơ bắt đầu chở nhiên liệu và bom đạn cho các phi cơ đóng tại Inchon. Thủy quân lục chiến tiếp tục dở hàng tiếp liệu và nhận thêm tiếp viện quân số. Khoảng 22 tháng 9, họ đưa lên 6.629 xe và 53.882 binh sĩ cùng với 23.000 tấn tiếp liệu.

Đột phá Vành đai Pusan[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị cuối cùng của Bắc Triều Tiên tại Nam Triều Tiên còn chiến đấu bị đánh bại khi Quân đoàn 8 Hoa Kỳ của Tướng Walker đột phá khỏi Vành đai Pusan, cùng với Binh đoàn X Lục quân mở một cuộc tấn công phối hợp vào các lực lượng của Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Trong số 70.000 quân Bắc Triều Tiên quanh Pusan, hơn phân nữa bị tiêu diệt hay bị bắt. Tuy nhiên, vì các lực lượng Liên Hiệp Quốc đang tập trung để chiếm Seoul hơn là cắt đường tháo lui về phía bắc của quân Bắc Triều Tiên cho nên có khoảng 30.000 quân Bắc Triều Tiên còn lại vượt thoát về phía bắc qua sông Áp Lục nơi chẳng bao lâu họ được tái xây dựng như một chủ bài cho việc thành lập các sư đoàn mới của Bắc Triều Tiên được Liên Xô tái vũ trang bị một cách vội vã. Cuộc tấn công của Liên Hiệp Quốc tiếp tục về phía bắc đến sông Áp Lục cho đến khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa can thiệp vào cuộc chiến.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Blair, Clay The Forgotten War: America in Korea, 1950–1953, Naval Institute Press (2003)
  2. ^ Krulak, Victor H. (Lt. Gen.), First to Fight: An Inside View of the U.S. Marine Corps, Naval Institute Press (1999)
  3. ^ a ă "Landings By Sea Not New In Korea": September 15, 1950 The New York Times (page 3)
  4. ^ "The Inchon Invasion, September 1950: Overview and Selected Images" from Naval Historical Center and " First Lieutenant Baldomero Lopez, USMC" from US Marine Corps
  5. ^ "United States Marines Headed For Seoul": September 18, 1950 The New York Times (page 1)
  6. ^ Alexander, Joseph H.; Horan, Don (1999). The Battle History of the U.S. Marines: A Fellowship of Valor. HarperCollins. tr. v. ISBN 0-06-093109-4. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • "The Inchon Invasion, September 1950—Overview and Selected Images." U.S. Department of the Navy/Naval Historical Center. [1]
  • Assault from the Sea: The Amphibious Landing at Inchon. U.S. Department of the Navy/Naval Historical Center. [2]
  • Ballard, John R. "Operation Chromite: Counterattack at Inchon." Joint Forces Quarterly: Spring/Summer 2001. PDF file
  • Blair, Clay, The Forgotten War: America in Korea, 1950–1953 Naval Institute Press (2003).
  • Bradford, Jeffrey A. "MacArthur, Inchon and the Art of Battle Command." Military Review 2001 81(2): 83–86. ISSN 0026-4148 Fulltext: in Ebsco. Abstract: MacArthur's understanding and use of battle command were critical for the operation's success. Battle command requires decisionmaking, leadership, and motivation of soldiers and organizations.
  • Clark, Eugene Franklin. The Secrets of Inchon: The Untold Story of the Most Daring Covert Mission of the Korean War: Putnam Pub Group (2002). ISBN 0-399-14871-X
  • "The Landing at Inchon." Canadians in Korea: Valour Remembered. Veterans Affairs Canada. [3]
  • Heefner, Wilson A. "The Inch'on Landing," Military Review 1995 75(2): 65–77. ISSN 0026-4148 fulltext in Ebsco
  • Colonel Robert D. Heinl, Jr. "The Inchon Landing: A Case Study in Ampibious Planning," Naval War College Review, Spring 1998, Vol. LI, No. 2 online
  • Krulak, Victor H. (Lt. Gen.), First to Fight: An Inside View of the U.S. Marine Corps, Naval Institute Press (1999)
  • Montross, Lynn et al., History of U.S. Marine Operations in Korea, 1950–1953, vol 1. (Washington: Historical Branch, G-3, Headquarters, Marine Corps, 1954)
  • Montross, Lynn. "The Inchon Landing—Victory over Time and Tide." The Marine Corps Gazette. July 1951. [4]
  • Schnabel, James F. United States Army in the Korean War: Policy and Direction: The First Year (Washington: Office of the Chief of Military History, 1972). official US Army history; full text online, ch 8–9
  • Simmons, Edwin H. Over the Seawall: US Marines at Inchon. (Marines in the Korean War Commemorative Series.) US Marine Corps History Center, 2000. 69 pp.
  • Stolfi, Russel H. S. "A Critique of Pure Success: Inchon Revisited, Revised, and Contrasted." Journal of Military History 2004 68(2): 505–525. ISSN 0899-3718 Fulltext in Project Muse, SwetsWise and Ebsco. Abstract: Contrasts the US style of war fighting with that of Germany by examining the US military's 1950 Inchon-Seoul operation and the German offensive in the Baltic in 1941.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]