Lực lượng Tự vệ Mặt đất Nhật Bản
Lực lượng Tự vệ Mặt đất Nhật Bản (JGSDF-陸上自衛隊 Rikujō Jieitai; Hán-Việt: Lục thượng tự vệ đội; thường được gọi tắt là lục tự) là lực lượng Lục quân thuộc Bộ Quốc phòng Nhật Bản. Tham mưu trưởng lực lượng này là tướng Eiji Kimizuka thay cho tướng Oriki Ryoichi; Bộ tham mưu có trụ sở đặt tại Ichigaya, Tokyo.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Sau năm 1945, Lục quân Đế quốc Nhật Bản và Hải quân Đế quốc Nhật Bản bị giải tán, thay thế cho nó bảo vệ nước Nhật là Cục Phòng vệ Nhật Bản bao gồm 3 binh chủng là Lực lượng Tự vệ Mặt đất Nhật Bản, Lực lượng Tự vệ Biển Nhật Bản và Lực lượng Tự vệ Trên không Nhật Bản.
Năm 1952, Nhật Bản thành lập Cục Bảo an. Lực lượng Cảnh sát Dự bị đã được đặt trong Cục Bảo an với các Lực lượng Cảnh sát Biển. Tháng 7 năm 1954, Cục Bảo an được tổ chức lại thành Cục Quốc phòng.
Những năm 1990, trên cơ sở của Hiệp ước An ninh Nhật - Mỹ (Treaty of Mutual Cooperation and Security between the United States and Japan), nước Nhật mới được phép đưa quân đội ra nước ngoài.
Cục Quốc phòng của Nhật đã được nâng cấp thành Bộ Quốc phòng vào ngày 9 tháng 1 năm 2007 dưới thời Thủ tướng Nhật Shinjo Abe. Lực lượng Tự vệ Mặt đất Nhật Bản được đặt trong Bộ Quốc phòng. Ngân sách quốc phòng năm 2008 là 4,779.7 tỉ Yên Nhật tương đương 43.7 tỉ USD.
Ban đầu, Lực lượng Tự vệ có được 75.000 người, nhưng đã dần dần ổn định và tăng lên 110.000 năm 1952, tăng lên 130.000 trong năm 1954, và khoảng 225.000 ngày hôm nay bao gồm cả sĩ quan và binh lính.
Một bộ phận tổ chức lớn nhất là các sư đoàn, đơn vị và được coi như một đơn vị cơ bản. Là các đơn vị chủ chốt trong quân ngũ, nó có trách nhiệm bảo vệ một khu vực cụ thể. Trong khi đó, quân đội nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của Người chỉ huy Cơ quan Quốc phòng. Dưới sự chỉ huy của Sở Chỉ huy quân đội, hai đến bốn sư đoàn, đơn vị hỗ trợ và có trách nhiệm bảo vệ một khu vực chống lại những kẻ thù của trực tiếp và / hoặc gián tiếp xâm lăng.
Khi Nhật Bản vươn lên trở thành một trong những quốc gia phồn thịnh nhất hành tinh, khi tình hình an ninh - quân sự thế giới có nhiều biến chuyển phức tạp, đặc biệt là sự trỗi dậy về mặt quân sự của các quốc gia trong khu vực, thì Cục Phòng vệ Nhật Bản không còn đáp ứng được các yêu cầu trong hoàn cảnh mới. Trong đó, Nhật đặc biệt nhấn mạnh mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên cùng cuộc tranh chấp với Nga tại quần đảo Kuril, cuộc tranh chấp với Hàn Quốc tại nhóm đảo đá Takeshima, các tranh chấp về khu vực đặc quyền kinh tế biển với Trung Quốc.
Cuộc chạy đua vũ trang trong nhiều năm qua đã dẫn tới kết quả là nước Nhật nằm giữa một loạt nước có vũ khí hạt nhân gồm Nga, Trung Quốc, có thể là cả Bắc Triều Tiên, chưa kể đồng minh Mỹ đòi hỏi phải có quân đội chính thức. Năm 2006, Thủ tướng Shinzo Abe đã đẩy mạnh tiến trình thành lập Bộ Quốc phòng và ngày 9/1/2007, Bộ Quốc phòng Nhật Bản chính thức được thành lập.[1]
Cấu tạo và chiến thuật [sửa]
Về bộ binh, Nhật có 179.430 người, chia thành 5 quân đoàn, có tổng cộng 12 sư đoàn xung kích. Từ năm 2000, quân đội Nhật đã được trang bị thêm một lực lượng đặc nhiệm 15.000 người.
Quân khu Nhật Bản [sửa]
Lục quân Nhật gồm 6 Quân khu:
- Quân khu Phương Bắc (Hokubu) (JGSDF Northern Army: NA).
- Quân khu Đông Bắc (Tohoku) (JGSDF North Eastern Army: NEA).
- Quân khu Phương Đông (Tobu) (JGSDF Eastern Army: EA).
- Quân khu Trung bộ (Chubu) (JGSDF Middle Army: MA).
- Quân khu Phương Tây (Seibu) (JGSDF Western Army: WA).
- Quân khu Thủ đô (Chuosokuo) (JGSDF Central Readiness Force: CRF).
Quân đoàn Lực lượng Tự vệ Mặt đất Nhật Bản [sửa]
Quân đoàn Phương Bắc Nhật Bản, tổng hành dinh ở Sapporo, Hokkaidō
Quân đoàn Đông Bắc Nhật Bản, tổng hành dinh ở Sendai, Miyagi
Quân đoàn Phương Đông Nhật Bản, tổng hành dinh ở Nerima, Tokyo
Quân đoàn Trung tâm Nhật Bản, tổng hành dinh ở Itami, Hyōgo
Quân đoàn Phương Tây Nhật Bản, tổng hành dinh ở thành phố Kumamoto, Kumamoto
Ngân sách Quốc phòng [sửa]
Hiện nay lực lượng tự vệ của Nhật có khoảng 225.000 người, trong đó mạnh nhất là lực lượng hải quân. Với ngân sách Quốc phòng 50 tỉ USD/năm (kể cả chi phí cho quân đội Mỹ ở Nhật, chi phí quân sự của Nhật đứng hàng thứ ba sau Mỹ-400 tỷ, trên cả Nga-15 tỷ. Từ năm tài khoá 2002, ngân sách quốc phòng Nhật đã vượt con số 1% GDP, vươn lên hàng thứ hai trên thế giới[2].
Hướng phát triển quân đội Nhật chủ yếu tập trung vào giảm số lượng nhưng tăng chất lượng, trang thiết bị, tăng khả năng cơ động, mở rộng phạm vi hoạt động của Lực lượng Tự vệ Nhật Bản, tăng cường hợp tác với Mỹ đồng thời đẩy nhanh các biện pháp củng cố an ninh, phòng ngừa, công khai về quốc phòng qua các hoạt động, diễn đàn chung về an ninh, giải trừ quân bị, trao đổi quân sự với các nước trong và ngoài khu vực.
Nhật Bản là 1 quần đảo nên việc phòng thủ có nhiều thuận tiện. Từ sau thập niên 90, khi Liên Bang Xô viết sụp đổ thì nguy cơ nước Nhật bị tấn công từ phía Bắc là không còn nhưng tình hình trong vùng vẫn không có gì thay đổi khi họ phải chịu sự đe dọa thường trực của Bắc Hàn và nhất là sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong những năm gần đây đã tạo điều kiện cho chính quyền Bắc Kinh gia tăng năng lực quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Gần đây qua sự mở rộng quân sự công khai của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quân đội Nhật đã thay đổi chiến lược chuyển sang tấn công chứ không còn giữ thế phòng thủ như trước. Quân đội Nhật được đánh giá là 1 lực lượng quân sự có thực lực trên thế giới.
Huấn luyện [sửa]
Trang bị [sửa]
Máy bay [sửa]
JGSDF sử dụng 548 máy bay, gồm 532 chiếc trực thăng.
| Máy bay | Xuất xứ | Kiểu | Phiên bản | Đang phục vụ | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| Beechcraft Super King Air | Máy bay tiện tích | LR-2 | 5 | ||
| Bell 205 | Trực thăng tiện tích | UH-1H
UH-1J |
161 | Chế tạo bởi Fuji | |
| Bell AH-1 Cobra | Trực thăng tấn công | AH-1S | 88 | Chế tạo bởi Fuji | |
| Boeing AH-64 Apache | Trực thăng tấn công | AH-64DJP | 55 | Đang chuyển giao | |
| Kawasaki-Vertol 107 | Trực thăng vận tải | KV-107 | 18 | ||
| Boeing CH-47 Chinook | Trực thăng vận tải | CH-47J
CH-47JA |
56 | Chế tạo bởi Kawasaki | |
| Eurocopter Super Puma | Trực thăng chở VIP | AS 332L | 3 | ||
| Eurocopter EC 225 | Trực thăng chở VIP | EC 225LP | 1 | Thay thế cho AS332L[3][4] | |
| Kawasaki OH-1 | Trực thăng trinh sát | 22 | Đang chuyển giao | ||
| MD Helicopters MD 500 | Trực thăng trinh sát | OH-6D
OH-6J |
48
115 |
Chế tạo bởi Kawasaki | |
| Mitsubishi MU-2 | Liên lạc | LR-1 | 11 | ||
| UH-60 Black Hawk | Trực thăng vận tải | UH-60JA | 23 | Chế tạo bởi Mitsubishi |
Xe tăng [sửa]
Xe Thiết giáp Bộ binh [sửa]
Xe các loại khác [sửa]
Xe các loại khác [sửa]
Pháo mặt đất [sửa]
- Pháo tự hành Type 74 105mm
Nhật Bản - Pháo tự hành Type 75 155mm (140)
Nhật Bản - M110 howitzer (90 khẩu)
Hoa Kỳ - MLRS (90 khẩu)
Hoa Kỳ - Pháo tự hành Type 99 155mm
Nhật Bản
Thiết bị Phòng không [sửa]
- Improved-HAWK
Hoa Kỳ - FIM-92A Stinger (80)
Hoa Kỳ - Type 81 Short-Range Surface-to-Air Missile (57)
Nhật Bản - Type 91 Portable Surface-to-Air Missile (210)
Nhật Bản - Type 93 Short-Range Surface-to-Air Missile (90)
Nhật Bản - Type 03 Medium-Range Surface-to-Air Missile
Nhật Bản
Vũ khí cá nhân [sửa]
- Howa Type 89
Nhật Bản - Howa Type 64
Nhật Bản - Minebea PM-9
Nhật Bản - FN Minimi
Bỉ - Howa Type 96
Nhật Bản - M4 Carbine
Hoa Kỳ (Only Special Operations Group.) - M16
Hoa Kỳ (Only Special Operations Group.) - NTK-62
Nhật Bản - SIG P220
Thụy Sĩ - SIG P226
Thụy Sĩ - M24 Sniper Weapon System
Hoa Kỳ - Howa 84RR
Thụy Điển - Isuzu 110mm
Đức
Vũ khí chống tăng [sửa]
- Type 01 Light Anti-Tank Missile
Nhật Bản - Type 64 Anti-Tank Missile
Nhật Bản - Type 79 Anti-Landing craft and Anti-Tank Missile
Nhật Bản - Type 87 Anti-Tank Missile
Nhật Bản - Type 88 Surface-to-Ship Missile
Nhật Bản - Type 96 Multi-Purpose Missile System
Nhật Bản
| Quân đội ở châu Á | |
|---|---|
|
Afghanistan | Ai Cập | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia2 | Đài Loan (Quân đội Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc 3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nga1 | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippines | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Thổ Nhĩ Kỳ1 | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen |
Xem thêm [sửa]
Chú thích [sửa]
- ^ Sự trỗi dậy của quân đội Nhật Bản
- ^ Michael Green. “Japan Is Back: Why Tokyo's New Assertiveness Is Good for Washington”. Real Clear Politics. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2007.
- ^ Eurocopter Canada - News 04/07/06
- ^ EADS Press Release - Japan Defense Agency Received First EC225 In VIP Configuration For The Japanese Emperor’s Royal Flight Service
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Lực lượng Tự vệ Mặt đất Nhật Bản. |
- Japan
- Globalsecurity.org JGSDF section
- Number of Tanks and Major Artillery and Performance Specifications
- Number of Major Aircraft and Performance Specifications
- Guided Missile Specifications
|
|
|||||