Chi Liễu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chi Liễu
Willow.jpg
Cây liễu rủ ven hồ
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Malpighiales
Họ (familia) Salicaceae
Chi (genus) Salix L.
Các loài

Khoảng 350-450, bao gồm:
Salix acutifolia - liễu tím
Salix alaxensis - liễu Alaska
Salix alba - liễu trắng
Salix alpina - liễu núi cao
Salix amygdaloides - liễu lá đào
Salix arbuscula - liễu núi
Salix arbusculoides - liễu cây nhỏ
Salix arctica - liễu Bắc cực
Salix atrocinerea
Salix aurita - nhĩ liễu
Salix babylonica - thùy liễu
Salix bakko
Salix barrattiana - liễu Barratt
Salix bebbiana - liễu khoằm
Salix boothii - liễu Booth
Salix bouffordii
Salix brachycarpa - liễu Barren
Salix cacuminis
Salix canariensis
Salix candida - ngải liễu
Salix caprea - liễu hoa vàng
Salix caroliniana - liễu Carolina
Salix chaenomeloides
Salix chilensis
Salix cinerea - liễu xám
Salix cordata
Salix daphnoides
Salix discolor - liễu tơ
Salix eastwoodiae - liễu Eastwood
Salix eleagnos
Salix eriocarpa
Salix eriocephala - liễu lá hình tim
Salix excelsa
Salix exigua
Salix foetida
Salix fragilis
Salix futura
Salix geyeriana
Salix gilgiana
Salix glauca
Salix gooddingii - liễu Goodding
Salix gracilistyla
Salix hainanica - liễu Hải Nam
Salix helvetica - liễu Thụy Sĩ
Salix herbacea - liễu lùn
Salix hirsuta
Salix hookeriana - liễu Hooker
Salix hultenii
Salix humboldtiana - liễu Chile
Salix humilis - liễu vùng cao
Salix integra
Salix interior
Salix japonica
Salix jessoensis
Salix koriyanagi
Salix kusanoi - thủy xã liễu
Salix lanata
Salix lapponum
Salix lasiandra - liễu Thái Bình Dương
Salix lasiolepis - liễu Arroyo
Salix lucida
Salix magnifica
Salix matsudana - liễu khô
Salix miyabeana
Salix mucronata
Salix myrtilloides - liễu đầm lầy
Salix myrsinifolia - liễu lá sẫm
Salix myrsinites - liễu lá việt quất
Salix nakamurana
Salix nigra - liễu đen
Salix pedicellaris
Salix pentandra
Salix petiolaris
Salix phylicifolia - liễu lá chè
Salix planifolia- liễu lá tiêu huyền
Salix polaris - liễu vùng cực
Salix pseudo-argentea
Salix purpurea - liễu tía
Salix pyrifolia - liễu thơm
Salix reinii
Salix repens
Salix reticulata
Salix retusa
Salix rorida
Salix rosmarinifolia - liễu lá hương thảo
Salix rupifraga
Salix salicicola
Salix schwerinii
Salix scouleriana - liễu Scouler
Salix sericea - liễu lụa
Salix serissaefolia
Salix serissima
Salix shiraii
Salix sieboldiana
Salix sitchensis - liễu Sitka
Salix subfragilis
Salix subopposita
Salix taraikensis
Salix tetrasperma
Salix thorelii
Salix triandra - liễu ba nhị
Salix udensis
Salix viminalis - liễu gai
Salix vulpina
Salix waldsteiniana
Salix wallichiana
Salix wilmsii
Salix woodii
Salix yezoalpina

Salix yoshinoi

Chi Liễu (danh pháp khoa học: Salix) là một chi của khoảng 350-450 loài[1] cây thân gỗ và cây bụi với lá sớm rụng, chủ yếu sinh sống trong các vùng đất ẩm của các khu vực ôn đới và hàn đới thuộc Bắc bán cầu. Một số loài cây bụi và cây thân gỗ nhỏ được gọi chung là liễu bụi hay liễu gai. Một số loài liễu, cụ thể là các loài sinh sống cận Bắc cực và vùng có khí hậu núi cao, có kích thước rất nhỏ; như liễu lùn (Salix herbacea) ít khi cao quá 6 cm, mặc dù nó lan rộng trên mặt đất.

Các loài liễu rất dễ lai ghép với nhau và hàng loạt các giống lai ghép đang hiện hữu, trong cả tự nhiên lẫn gieo trồng. Một ví dụ đáng chú ý là liễu rủ (Salix × sepulcralis), được trồng khá phổ biến để làm cây cảnh, là giống cây lai ghép giữa thùy liễu ở Trung Quốc với liễu trắng tại châu Âu.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các loài liễu đều có dịch nhiều nước, vỏ cây có vảy nhăn chứa nhiều axít salicylic, gỗ mềm, dai nhưng dễ uốn, các cành mảnh dẻ và các rễ lớn có thớ thường với thân bò. Các rễ này đáng chú ý vì kích thước, độ dai và sống dai.

Các lá nói chung thuôn dài nhưng cũng có thể tròn hay hình ôvan, thường có mép lá với khía răng cưa. Tất cả các chồi đều là dạng chồi bên; không có chồi đỉnh. Chúng được bao phủ bằng một vảy bắc, bao quanh tại phần đế của nó 2 chồi nhỏ mọc đối, so le với 2 lá nhỏ chóng rụng mọc đối, tương tự như vảy bắc. Các lá mọc so le, ngoại trừ cặp lá đầu tiên rụng khi dài khoảng 2–3 cm (1 inch). Chúng là dạng lá đơn, gân lá lông chim, thông thường hình mũi mác thẳng. Thường chúng có khía răng cưa, thuôn tròn tại phần đế và nhọn đỉnh. Về màu lá, tùy theo loài mà lá có các sắc thái khác nhau của màu xanh lục, dao động trong khoảng từ vàng tới xanh lam.

Cuống lá ngắn, các lá kèm rất dễ thấy, trông tương tự như như các lá nhỏ và tròn, đôi khi tồn tại đến giữa mùa hè. Tuy nhiên, ở một số loài thì chúng lại nhỏ, sớm rụng và không dễ thấy.

Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài liễu là đơn tính khác gốc với hoa đực và hoa cái xuất hiện dưới dạng hoa đuôi sóc trên các cây khác nhau; các hoa đuôi sóc này xuất hiện vào đầu mùa xuân, thường trước khi ra lá hoặc cùng với các lá đầu tiên.

Các hoa đực không có đài hay tràng hoa; chúng chỉ bao gồm các nhị, với số lượng từ 2 tới 10, được kèm theo là tuyến mật hoa và gài vào phần đế của vảy bắc sinh ra trên trục của cành hoa rủ xuống (hoa đuôi sóc). Vảy bắc này hình ôvan, liền và nhiều lông tơ. Các bao phấn màu hồng khi ở dạng chồi nhưng có màu vàng cam hay tía sau khi hoa nở, chúng là dạng 2 ngăn và các ngăn mở theo chiều dọc. Các chỉ nhị tương tự như sợi chỉ, thường có màu vàng nhạt và nhiều lông tơ.

Các hoa cái cũng không có đài hay tràng hoa; chỉ bao gồm 1 bầu nhụy được kèm theo một tuyến dẹt và nhỏ, gài vào phần đế của vảy bắc cũng sinh ra trên trục của hoa đuôi sóc. Bầu nhụy là dạng một ngăn, vòi nhụy 2 thùy, nhiều noãn.

Quả[sửa | sửa mã nguồn]

Quả liễu là dạng quả nang nhỏ chứa nhiều hạt nhỏ (kích thước cỡ 0,1 mm) gắn vào lông tơ màu trắng để hỗ trợ việc phát tán hạt. Quả là dạng một ngăn, với 2 mảnh vỏ, hình trụ, khoằm, chứa nhiều hạt nhỏ gắn với các lông tơ nhỏ màu trắng, dài như lụa.

Gieo trồng[sửa | sửa mã nguồn]

Gần như tất cả các loài liễu rất dễ đâm rễ từ các cành chiết hay khi cành gãy nằm trên đất ẩm. Chỉ có một ít ngoại lệ, như liễu hoa vàngliễu lá đào. Một ví dụ nổi tiếng về tính dễ trồng của liễu từ cách chiết là câu chuyện về nhà thơ Alexander Pope, người đã xin một cành con từ gói hàng được đai gói bằng các cành liễu nhỏ gửi từ Tây Ban Nha tới Lady Suffolk. Cành nhỏ này được trồng và phát triển tốt, người ta đồn rằng tất cả các cây liễu rủ tại Anh là hậu duệ của cây này [1].

Liễu nói chung được trồng trên bờ sông suối nhằm mục đích cho các chùm rễ xoắn lại với nhau của chúng bảo vệ cho bờ sông (suối) không bị nước làm xói mòn.

Vấn đề sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài liễu bị ấu trùng của một số loài côn trùng cánh vẩy (Lepidoptera) phá hại - xem Danh sách các loài côn trùng cánh vẩy phá hại liễu.

Một lượng lớn các loài liễu đã được trồng tại Australia trong quá khứ, như là biện pháp chống xói mòn dọc theo các nguồn nước. Nhưng hiện nay, chúng bị coi là các loài xâm hại và nhiều cơ quan có thẩm quyền quản lý lưu vực đang phải tiến hành công việc loại bỏ chúng bằng các loài cây bản địa [2].. [3].

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Y học[sửa | sửa mã nguồn]

Lá và vỏ thân cây liễu đã được đề cập tới trong các tài liệu cổ đại ở Assyria, SumerAi Cập[2] như là phương thuốc điều trị các cơn đau nhức và sốt,[3] và thầy thuốc Hy LạpHippocrates đã viết về các tính chất y học của nó vào thế kỷ 5 TCN. Thổ dân châu Mỹ trong khắp cả châu lục này dựa vào nó như là yếu tố chính trong các điều trị y học của họ.

Năm 1763, các tính chất y học của nó đã được Reverend Edward Stone ở Anh theo dõi. Ông thông báo cho Hiệp hội Hoàng gia (Royal Society) để công bố các kết quả nghiên cứu của mình. Thành phần hoạt hóa của vỏ cây, gọi là salicin, đã được Henri Leroux, một dược sĩ người Pháp và Raffaele Piria, một nhà hóa học người Italia, cô lập thành dạng kết tinh của nó năm 1828. Raffaele Piria cũng là người đã thành công trong việc tách axít này thành dạng nguyên chất của nó. Salicin có tính chất của một axít khi bão hòa trong nước (pH = 2,4), và được gọi là axít salicylic vì lý do này.

Năm 1897, Felix Hoffmann tạo ra salicin tổng hợp (trong trường hợp của ông là tách ra từ các loài Spiraea trong họ Hoa hồng), ít gây rối loạn tiêu hóa hơn so với axít salicylic tinh chất. Loại thuốc mới, về mặt chính thức là axít axetylsalicylic, được công ty thuê mướn Hoffmann là Bayer AG (Đức) đặt tên thương phẩm là aspirin. Nó là một loại thuốc trong một lớp thuốc có tầm quan trọng lớn, được biết đến như là các thuốc kháng viêm không steroit (NSAIDs - non-steroidal anti-inflammatory drugs).

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong vai trò của một loại thực vật, liễu được sử dụng trong trồng rừng, lọc sinh học, tạo ra các vùng đầm lầy nhân tạo cho các hệ thống xử lý nước thải sinh thái, hàng rào, cải tạo và phục hồi đất, cảnh quan, kiểm soát xói mòn đất, hàng cây chắn gió và chắn lũ, tạo môi trường sống cho động vật hoang dã v.v. Nó cũng là một nguồn năng lượng như than củi hay trong lâm nghiệp năng lượng chẳng hạn như dự án sinh khối liễu. Ngoài ra nó còn là nguồn cung cấp gỗ và các sản phẩm từ gỗ.

Liễu cũng là một phần trong bốn loài được sử dụng trong lễ hội Sukkot của người Do Thái.

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Liễu là đề tài nổi tiếng trong nhiều nền văn hóa Á Đông. Nó xuất hiện nhiều trong thơ ca của người Triều Tiên. Kisaeng (기생) Hongrang sống vào giữa thời Triều Tiên (1392-1910) đã viết: giống như cây liễu em sẽ là cây liễu bên cạnh giường của anh. Hongrang viết bài thơ này về cây liễu trong mưa buổi chiều để tặng cho bạn tình cách biệt của bà. [4]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mabberley D.J. 1997. The Plant Book. Nhà in Đại học Cambridge: Cambridge.
  2. ^ James Breasted (tiếng Anh). “The Edwin Smith Papyrus”. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2007. 
  3. ^ “An aspirin a day keeps the doctor at bay: The world's first blockbuster drug is a hundred years old this week”. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2007. 
  4. ^ “The Forest of Willows in Our Minds”. Arirang TV. 20 tháng 8 năm 2007. Tra cứu 10 tháng 9 năm 2007.