Truyện Kiều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Truyện Kiều
Đoạn Trường Tân Thanh
斷腸新聲
Đoạn trường tân thanh.png
Bản "Đoạn trường tân thanh" (斷腸新聲) in năm 1902 và "Kim Vân Kiều tân tập" (金雲翹新集) khắc in năm 1906.
Thông tin sách
Tác giả Nguyễn Du (17661820)
Quốc gia Việt Nam
Ngôn ngữ tiếng Việt
(Chữ Nôm)
Thể loại Thơ
Kiểu sách Sách
ISBN không rõ
Hai bản "Kim Vân Kiều tân truyện" (金雲翹新傳), bìa bên trái là "Liễu Văn đường tàng bản" (柳文堂藏板) in năm 1871, bên phải là "Bảo Hoa các tàng bản" (寶華閣藏板) in năm 1879

Truyện Kiều (chữ Nôm: 傳翹), tên gốc là Đoạn trường tân thanh(chữ Hán: 斷腸新聲), là truyện thơ chữ Nôm theo thể lục bát của Nguyễn Du, gồm 3254 câu, dựa theo tiểu thuyết " Kim Vân Kiều truyện" (金雲翹傳) của Thanh Tâm Tài Nhân (青心才人), Trung Quốc[1]

Hoàn cảnh ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820). Lại có thuyết nói ông viết trước đi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn [2]. Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi. Hai bản in xưa nhất hiện còn là bản của Liễu Văn Đường (1871) và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở thời vua Tự Đức [2].

Các nhân vật trong Truyện Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vương ông (王翁, nghĩa là "ông họ Vương"): cha của Vương Thuý Kiều, Vương Thuý Vân và Vương Quan. Trong "Kim Vân Kiều truyện" hồi một nói ông tên là Vương Lưỡng Tùng (王兩松), biểu tự là Tử Trinh (子貞) nhưng trong hôn thư (婚書, văn ước kết hôn thời xưa) do Vương Thuý Kiều viết ở hồi năm thì lại ghi ông tên là "Vương Chương" (王章). Nhà ông ở Bắc Kinh (北京).
  • Vương bà (王婆, có nghĩa là "bà họ Vương", gọi theo họ của chồng): vợ của Vương ông. Hồi một của "Kim Vân Kiều truyện" nói bà họ Kinh (京) nhưng trong hôn thư do Vương Thuý Kiều viết ở hồi năm lại ghi bà họ Hà (何).
  • Thuý Kiều (翠翹): họ tên đây đủ là Vương Thuý Kiều (王翠翹). Trưởng nữ của Vương ông, Vương bà, chị cả của Vương Thuý Vân và Vương Quan. Khi Thuý Kiều làm nữ tì trong Hoạn phủ được Hoạn phu nhân đặt cho tên là Hoa Nô (花奴). Khi Kiều vào ở trong Quan Âm các có đạo hiệu là Trạc Tuyền (濯泉). Theo "Kim Vân Kiều truyện" thì cái tên Trạc Tuyền là do Thúc sinh đặt cho Thuý Kiều theo yêu cầu của Hoạn thư.
  • Thuý Vân (翠雲): Họ tên đầy đủ là Vương Thuý Vân (王翠雲). Thứ nữ của Vương ông, Vương bà, em gái của Vương Thuý Kiều, chị hai của Vương Quan.
  • Vương Quan (王觀): con trai út của Vương ông, Vương bà, em của Vương Thuý Vân và Vương Thuý Kiều.
  • Đạm Tiên (淡仙): Theo "Kim Vân Kiều truyện", Đạm Tiên có họ tên đây đủ là Lưu Đạm Tiên (劉淡仙).
  • Kim Trọng (金重): Theo "Kim Vân Kiều truyện", Kim Trọng có biểu tự là Thiên Lý (千里).
  • Thằng bán tơ (chữ Nôm: 繩半絲)
  • Mã giám sinh (馬監生, nghĩa là "giám sinh họ Mã"): Theo "Kim Vân Kiều truyện", Mã giám sinh có họ tên đầy đủ là Mã Quy (馬龜).
  • Tú bà (秀婆, có nghĩa là "bà Tú"): Theo "Kim Vân Kiều truyện", Tú bà có họ tên đây đủ là Mã Tú (馬秀).
  • Sở Khanh (楚卿)
  • Thúc sinh (束生, nghĩa là "thư sinh họ Thúc"): Còn được gọi là "chàng Thúc" (撞束), "Thúc sinh viên" (束生員, nghĩa là "sinh viên họ Thúc"), "Thúc lang" (束郎, nghĩa là "chàng Thúc"). Trong "Truyện Kiều" chỉ được gọi bằng họ, không nói tên là gì. Theo "Kim Vân Kiều truyện" Thúc sinh có họ tên đầy đủ là "Thúc Thủ" (束守), biểu tự là Kỳ Tâm (其心).
  • Hoạn thư (宦姐, có nghĩa là "chị Hoạn"): vợ của Thúc sinh. Trong "Kim Vân Kiều truyện" Hoạn thư được gọi là "Hoạn tiểu thư" (宦小姐, nghĩa là "tiểu thư họ Hoạn) hoặc "Hoạn thị" (宦氏, nghĩa là "họ Hoạn"). "Kim Vân Kiều truyện" và "Truyện Kiều" đều không nói nhân vật tên là gì.
  • Hoạn phu nhân (宦夫人): mẹ của Hoạn thư.
  • Thúc ông (束翁, nghĩa là "ông họ Thúc"): cha của Thúc sinh
  • Khuyển (犬): Theo "Kim Vân Kiều truyện", Khuyển có họ tên đầy đủ là Hoạn Khuyển (宦犬).
  • Ưng (鷹): Theo "Kim Vân Kiều truyện", Ưng có tên đầy đủ là Hoạn Ưng (宦鷹).
  • Giác Duyên (覺緣): ni cô Quan Âm các (觀音閣)
  • Bạc bà (薄婆, nghĩa là "bà họ Bạc")
  • Bạc Hạnh (薄幸)
  • Từ Hải (徐海)
  • Hồ Tôn Hiến (胡宗憲): Tên người này theo âm Hán Việt tiêu chuẩn hiện đại thì phải đọc là "Hồ Tông Hiến".

Lược truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Tác giả nêu luận đề[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Du đem thuyết "tài mệnh tương đố" (tài và mệnh ghét nhau) làm luận đề cuốn truyện.

Chữ Nôm:
𤾓𢆥中𡎝𠊚些
𡦂才𡦂命靠羅恄饒
𣥱戈沒局彼橷
仍調𦖑體麻𤴬疸𢚸
邏之彼嗇斯豐,
𡗶𩇢悁退𦟐紅打慳
Chữ quốc ngữ:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Tả hai chị em[sửa | sửa mã nguồn]

Vào khoảng thời vua Minh Thế Tông (1522-1566), trong một gia đình viên ngoại (員外) họ Vương (王) có ba người con là Thuý Kiều (翠翹) (trưởng nữ), Thuý Vân (翠雲) (thứ nữ) và Vương Quan (王觀) (con trai út). Hai chị em Thuý Kiều và Thuý Vân thì "mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười", nhưng "so bề tài sắc" thì Thúy Kiều lại hơn hẳn cô em.

頭弄𠄩婀素娥
翠翹羅姊㛪羅翠雲
梅骨格雪精神
每𠊚沒𨤔𨑮分援𨑮
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

Kiều thăm mộ Đạm Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một lần đi tảo mộ vào tiết Thanh minh, khi đi qua mộ Đạm Tiên (淡仙), một "nấm đất bên đàng", Kiều đã khóc thương và không khỏi cảm thấy ái ngại cho một "kiếp hồng nhan" "nổi danh tài sắc một thì" mà giờ đây "hương khói vắng tanh". Vốn là một con người giàu tình cảm và tinh tế nên Kiều cũng đã liên cảm tới thân phận của mình và của những người phụ nữ nói chung:

𤴬疸台分彈婆
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Kiều gặp Kim Trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng trong ngày hôm đó, Kiều đã gặp Kim Trọng (金重), là một người "vốn nhà trâm anh", "đồng thân" với Vương Quan, từ lâu đã "trộm nhớ thầm yêu" nàng. Bên cạnh đó thì Kim Trọng cũng là người "vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa". Tuy chưa kịp nói với nhau một lời nhưng sau cuộc gặp gỡ này thì "tình trong như đã, mặt ngoài còn e". Tiếp sau lần gặp gỡ ấy là mối tương tư:

Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không?

Kim Trọng vì tương tư Kiều nên đã quên hết cả thú vui hàng ngày, tìm cách chuyển đến ở gần nhà Kiều. Sau đó mấy tuần trăng thì Kim Kiều đã gặp nhau, Kiều đã nhận lời Kim Trọng và họ đã trao đổi món kỷ vật cho nhau. Nhiều lần Kim Trọng cũng muốn "vượt rào" nhưng Thuý Kiều là một người sắc sảo, cô đã thuyết phục được Kim Trọng:

Vội chi liễu ép hoa nài,
Còn thân ắt lại đền bồi có khi!
Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân.

Kiều bán mình chuộc cha[sửa | sửa mã nguồn]

Tai họa đã đột ngột ập đến Vương gia trong lúc người thiếu nữ còn đang thổn thức với mối tình đầu. Trong hoàn cảnh bi đát như vậy, Kiều đành phải đi đến quyết định bán mình để chuộc cha, nhưng nàng không quên lời hẹn ước "trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai" với Kim Trọng trước khi chàng về Liêu Dương để chịu tang chú. Thuý Kiều đã nhờ cậy Thuý Vân thay mình trả lời hẹn ước với Kim Trọng:

Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Trao duyên cho em xong, nàng cảm thấy xót thương cho thân phận của chính mình:

Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

Do đau thương quá nên Thuý Kiều đã ngất đi trên tay người thân.

Kiều rơi vào tay Mã giám sinh và Tú bà[sửa | sửa mã nguồn]

Mã giám sinh (馬監生, nghĩa là "giám sinh họ Mã") vốn là "một đứa phong tình đã quen" cùng với Tú bà mở hàng "buôn phấn bán hương", chuyên đi mua gái ở các chốn về lầu xanh. Thấy Thuý Kiều như là một món hàng ngon, nhất quyết mua về, lấy tiếng là làm vợ nhưng sau khi "con ong đã tỏ đường đi lối về", Thuý Kiều đã bị Tú bà (秀婆, nghĩa là "bà Tú") bắt phải tiếp khách. Nàng nhất quyết không chịu, tự vẫn bằng dao nhưng không chết. Tú bà đành nhượng bộ cho nàng ra ở lầu Ngưng Bích (凝碧). Ở nơi này, nỗi nhớ người thân luôn luôn ấp ủ trong lòng đặc biệt là nỗi nhớ mối tình của nàng với Kim Trọng:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

và nỗi nhớ thương cha mẹ của Kiều:

Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

Và nỗi buồn của người thiếu nữ được thể hiện qua những câu thơ chất chứa đầy cảm xúc:

Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi…

Kiều mắc lừa Sở Khanh[sửa | sửa mã nguồn]

Sống một mình giữa không gian mênh mông xa vắng đó nên khi gặp Sở Khanh (楚卿), một gã có "hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng" và cũng khá "văn vẻ", cô như người đang sắp chết đuối vớ được cọc mà không còn bình tĩnh nhận ra lời lường gạt sáo rỗng của Sở Khanh.

Than ôi! Sắc nước hương trời,
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?...

Kiều vội vàng tin Sở Khanh và cùng Sở Khanh trốn thoát khỏi lầu Ngưng Bích. Cô nào ngờ mình đã rơi vào lưới do Tú bà giăng sẵn để giữ cô lại vĩnh viễn ở lầu xanh. Chưa kịp cao chạy xa bay thì Tú bà đến và lúc này nàng mới rõ bản chất con người Sở Khanh:

Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh,
Một tay chôn biết mấy cành phù dung!...

Bị tú bà đánh, nàng đành phải chịu quy phục, mặc cho thể xác "đến phong trần, cũng phong trần như ai" và cảm thấy xót xa cho chính bản thân mình:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa…

Kiều gặp Thúc sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Thúc sinh (束生, nghĩa là "thư sinh họ Thúc") tuy đã có vợ là Hoạn thư (宦姐, nghĩa là "chị Hoạn") nhưng cũng là người "mộ tiếng Kiều nhi" từ lâu. Thúc sinh trong tác phẩm này có lẽ là có diễn biến tình cảm, tâm tư mang tính của con người trong "đời thường" nhất, chứ không cách điệu nhiều như những nhân vật khác trong tác phẩm. Thế giới của Thúc sinh là thế giới của đam mê và là sứ giả phong lưu của tình dục. Chưa có một "đấng nam nhi" nào trong truyện Kiều có cách nhìn nâng tấm thân của Kiều lên tầm thẩm mỹ như Thúc Sinh

Rõ màu trong ngọc trắng ngà!
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên….

Do vậy Kiều đã ham sống và tự tin hơn về tương lai số phận của mình. Hai người vui vẻ bên nhau "ý hợp tâm đầu".

Khi hương sớm khi trà trưa,
Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn...

Thúc sinh đã chuộc Thuý Kiều ra khỏi lầu xanh. Tuy nhiên, vì là gái lầu xanh Kiều đã không được Thúc ông (束翁, nghĩa là "ông Thúc"), cha của Thúc sinh, thừa nhận. Thúc ông đã đưa Kiều lên quan xét xử:

Phong lôi nổi trận bời bời,
Nặng lòng e ấp tính bài phân chia.
Quyết ngay biện bạch một bề,
Dạy cho má phấn lại về lầu xanh!...

Kiều cam tâm chịu kiếp lẽ mọn để được hưởng hạnh phúc yên bình của gia đình, tuy không được trọn vẹn với Thúc Sinh. Không chịu quay về lầu xanh nên lại thêm một lần nữa Kiều gặp cảnh khốn khổ:

Dạy rằng: Cứ phép gia hình!
Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.
Phận đành chi dám kêu oan,
Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày.
Một sân lầm cát đã đầy,
Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương.

Thấy Thúc sinh đau khổ khi thấy Kiều vì mình mà gặp nạn, quan kia đã cho Kiều làm một bài thơ bày tỏ nỗi niềm. Đọc thơ của Kiều, vị quan khen ngợi rồi khuyên Thúc ông nên rộng lượng chấp nhận Kiều lại cho đồ sính lễ cưới xin. Nhờ thế Kiều thoát kiếp thanh lâu nhưng chưa được bao lâu thì nàng lại mắc vạ với Hoạn Thư, vợ chính của Thúc Sinh.

Kiều và Hoạn thư[sửa | sửa mã nguồn]

Khi biết chuyện, cha mẹ Thúc sinh nổi giận đòi trả Kiều trở về chốn cũ, nhưng khi biết Thuý Kiều tài sắc vẹn toàn, có tài làm thơ, cha của Thúc sinh đã phải thốt lên:

Thương vì hạnh trọng vì tài
Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba

Kiều đã ở cùng Thúc sinh suốt một năm ròng và vẫn luôn khuyên Thúc sinh về thăm vợ cả Hoạn thư, họ vẫn chưa có con chung sau nhiều năm sống cùng nhau. Sau chuyến đi thăm và quay trở lại gặp Kiều, Thúc sinh không ngờ rằng Hoạn thư đã sai gia nhân đi tắt đường biển để bắt Thuý Kiều về tra hỏi. Thuý Kiều bị tưới thuốc mê bắt mang đi, còn mọi người trong nhà lúc đó cứ ngỡ cô bị chết cháy sau trận hỏa hoạn. Kiều trở thành thị tì nhà Hoạn thư với cái tên là Hoa Nô (花奴). Lúc Thúc sinh về nhà, nhìn thấy Thuý Kiều bị bắt ra chào mình, "phách lạc hồn xiêu", chàng nhận ra rằng mình mắc lừa của vợ cả. Hoạn thư đã bắt Kiều phải hầu hạ, đánh đàn cho bữa tiệc của hai vợ chồng. Đánh đàn mà tâm trạng của Kiều đau đớn:

Bốn dây như khóc như than
Khiến người trong tiệc cũng tan nát lòng
Cũng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm

Thế rồi, do thấy Kiều khóc nhiều, Hoạn thư bảo Thúc sinh tra khảo vì lý do gì. Thuý Kiều viết tờ khai nói rằng vì cha bị oan khiên, phải bán mình và bị lừa vào lầu xanh, sau đó có người chuộc ra làm vợ, rồi chồng đi vắng, nàng bị bắt đưa vào cửa nhà quan... rất tủi nhục, bây giờ chỉ mong được vào chùa tu cho thoát nợ trần. Đọc tờ khai xong, Hoạn thư đồng ý cho Hoa Nô vào Quan Âm các (觀音閣) sau vườn để chép kinh. Thực ra, Hoạn thư đánh Kiều rất nhiều, Nguyễn Du miêu tả về "đòn ghen" của Hoạn thư là "nhẹ như bấc, nặng như chì". Hoạn Thư đã ứng xử theo thường tình hiện hữu của dân gian, là "chút dạ đàn bà, ghen tuông thì cũng người ta thường tình!", "Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai". Hoạn Thư khéo léo phá vỡ dây tơ giữa Kiều và Thúc sinh, làm Kiều ra đi một cách tự nguyện. Kiều trốn khỏi Quan Âm các và đã gặp ni cô Giác Duyên (覺緣). Bà đã cho Kiều sang ở tạm nhà Bạc bà (薄婆, nghĩa là "bà họ Bạc"), một Phật tử thường hay lui tới chùa. Ai ngờ "Bạc bà cùng với Tú bà đồng môn", Bạc bà đã khuyên Kiều lấy cháu mình là Bạc Hạnh (薄幸). Qua tay Bạc Hạnh, một lần nữa Kiều lại bị bán vào lầu xanh.

Kiều gặp Từ Hải[sửa | sửa mã nguồn]

Ở lầu xanh, Kiều "ngậm đắng nuốt cay" sống cuộc sống ô nhục. Một ngày đẹp trời, có một người khách ghé qua chơi, đó là Từ Hải (徐海), một anh hùng lừng danh thời đó: "Râu hùm hàm én mày ngài, vai năm tấc rộng, thân mười thước cao", tài năng phi thường "đường đường một đấng anh hào, côn quyền hơn sức lược thao gồm tài". Hai bên đã phải lòng nhau "Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa" và Từ Hải chuộc Kiều về chốn lầu riêng. Sống với nhau được nửa năm, Từ Hải lại "động lòng bốn phương", muốn ra nơi biên thuỳ chinh chiến. Thuý Kiều muốn xin đi cùng nhưng Từ Hải không cho đi:

Nàng rằng:"phận gái chữ tòng"
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi"
Từ rằng:"tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình..."

Trong lúc Từ Hải đi chinh chiến, nàng ở nhà nhớ tới bố mẹ chắc đã "da mồi tóc sương", còn em Thuý Vân chắc đang "tay bồng tay mang" vui duyên với Kim Trọng. Từ Hải sau đó đã chiến thắng trở về, mang binh tướng tới đón Kiều làm lễ vu quy (于歸).

Kiều báo ân trả oán[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc vui mừng cũng là lúc Thúy Kiều nghĩ đến những ngày "hàn vi", nàng kể hết mọi chuyện cho Từ Hải và muốn có sự "ân đền oán trả". Những Bạc bà, Bạc Hạnh, Sở Khanh,... đều bị chịu gia hình, còn những vị sư đã giúp đỡ Kiều trong cơn hoạn nạn đều được thưởng. Riêng Hoạn thư nhờ khéo nói "Rằng tôi chút phận đàn bà. Ghen tuông thì cũng người ta thường tình" nên được tha. Sau đó Kiều có gặp sư Giác Duyên, được bà báo rằng năm năm nữa hai người sẽ gặp nhau vì Kiều còn phải trải qua nhiều lận đận chưa đoàn tụ ngay được với gia đình.

Kiều tự vẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Tôn Hiến bấy giờ là một quan tổng đốc của triều đình, mang nhiệm vụ đến khuyên giải Từ Hải đầu hàng và quy phục triều đình. Hồ Tôn Hiến đã bày mưu mua chuộc Thuý Kiều, đánh vào ham muốn có một cuộc sống "an bình" của phụ nữ, nàng đã thật dạ tin người và xiêu lòng nghe theo lời Hồ Tôn Hiến về thuyết phục Từ Hải ra hàng:

Trên vì nước dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu hai là đắc trung...

Từ Hải đã phân vân:

Một tay gây dựng cơ đồ
Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành
Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồng ra cúi công hầu mà chi
Sao bằng riêng một biên thùy
Sức này đã dễ làm gì được nhau
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai…

Sau đó, Hồ Tôn Hiến đã thừa cơ bao vây, nhìn thấy Từ Hải, Thuý Kiều định lao tới để tự vẫn nhưng chàng bị mắc mưu và đã "chết đứng giữa đàng". Thuý Kiều cảm thấy hối tiếc và dằn vặt bản thân:

Mặt nào trông thấy nhau đây?
Thà liều sống thác một ngày với nhau!..

Hồ Tôn Hiến đang đà thắng đã ép Kiều phải "thị yến dưới màn", Thuý Kiều đã khóc thương và xin được mang Từ Hải đi chôn cất. Hồ Tôn Hiến đã chấp nhận cho "cảo táng di hình bên sông". Biết nàng giỏi đàn, Hồ Tôn Hiến bắt nàng phải chơi, Kiều đã thể hiện nỗi lòng mình qua tiếng đàn:

Một cung gió thảm mưa sầu,
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay!
Ve ngâm vượn hót nào tày,
Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu…

Sáng hôm sau, để tránh lời đàm tiếu về mình, Hồ Tôn Hiến đã gán ngay Kiều cho người thổ quan. Trên con thuyền, Kiều nhớ tới lời của Đạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng "Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau", nàng đã quyết định nhảy xuống sông tự vẫn.

Kim Trọng đi tìm Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

Về phần Kim Trọng, sau khi hộ tang chú xong, quay trở lại thì biết tin gia đình Kiều gặp nạn, Kiều đã bán mình chuộc cha. Kim Trọng đau xót:

勿𨉓𢭶這𣻆𩄎
淫洟湥玉矧蜍魂枚
𤴬𠾕段疙𠾕推
省𠚢吏哭哭耒吏迷
Vật mình vẫy gió tuôn mưa,
Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.
Đau đòi đoạn ngất đòi thôi,
Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

Mọi người trong nhà khuyên can hết lẽ, chàng nghe theo lời dặn của Kiều và đón cha mẹ Kiều cùng Thuý Vân sang nhà chăm lo phụng dưỡng, đồng thời vẫn đưa tin tìm kiếm nàng khắp nơi. Tuy "sâu duyên mới" nhưng chàng lại "càng giàu tình xưa". Vương Quan và Kim Trọng sau đó đều đỗ đạt và làm quan. Sau nhiều ngày tháng tìm kiếm thì hai người mới dò la được thông tin của Thuý Kiều là đã trầm mình dưới sông Tiền Đường (錢塘). Ra đến sông, mọi người gặp sư Giác Duyên ở đó, được biết là Thuý Kiều đã được bà cứu mạng về cưu mang. Sau đó, mọi người được dẫn về gặp lại nàng Kiều, "mừng mừng tủi tủi".

Đoàn tụ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau mười lăm năm lưu lạc, Thuý Kiều đã trở về đoàn viên với gia đình. Nhưng nàng chính là người sợ việc đoàn viên hơn ai cả. Trong việc tái ngộ này, Thuý Vân chính là người đầu tiên đã lên tiếng vun vào cho chị. Nhưng trong đêm gặp lại ấy, Thuý Kiều đã tâm sự với Kim Trọng:

身殘伴濁𢵱沖
羅𢘾君子恪𢚸𠊚些
Thân tàn gạn đục khơi trong
Là nhờ quân tử khác lòng người ta…

Nàng ghi nhận tấm lòng của Kim Trọng nhưng tự thấy mình không còn xứng đáng với chàng nữa.Tuy rằng ngoài mặt hai người đã đồng ý nhưng hai người đã thầm nói sẽ trở thành bạn "chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ".

Nguyễn Du đã gửi gắm toàn bộ thế giới quan của mình về xã hội phong kiến lúc đó qua các câu thơ nhận xét về cuộc đời lưu lạc của Thuý Kiều:

吟咍𨷈事在𡗶
𡗶箕陀八濫𠊚固身
八風塵沛風塵
朱清高買特分清高
Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Tổng quát[sửa | sửa mã nguồn]

Hai thái độ cực đoan về Truyện Kiều đã xảy ra kể từ khi tác phẩm ra đời, đó là "say mê và tôn sùng truyện đến cực độ và mạ lỵ chửi bới cũng hết điều". Dưới con mắt của một số người như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng...thì Truyện Kiều chỉ là một dâm thư. Huỳnh Thúc Kháng viết: "Nói cho đúng ra Truyện Kiều chỉ là một dâm thư, rõ ràng không có ích gì mà có hại. Ở xã hội ta từ có kẻ tán dương Truyện Kiều truyền bá học Kiều đến nay, đã biết bao lớp thanh niên say mê sóng sắc, chìm nổi bể tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theo mốt đam mê của mình…"[3]

Tựu chung, "về phương diện văn chương thì ai củng công nhận Truyện Kiều là hay, nhưng về đường luân lý, theo các cụ là một quyển không nên cho đàn bà con gái xem" [4]. Bởi vậy trong dân gian đã có câu:

Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều.

Ngày nay, việc phân tích và đánh giá về nhiều góc cạnh của Truyện Kiều có nhiều và về phương diện luân lý, việc đánh giá đã không còn khe khắt như trước. Và theo PGS. Nguyễn Thạch Giang, thì mặt ưu và mặt khuyết của tác phẩm, có thể đúc kết khái quát lại như sau:

... Truyện Kiều đã phản ảnh sinh động xã hội thời đại của tác giả, khi mà chế độ phong kiến đang suy thói đã bộc lộ đầy đủ tính chất mục nát, vô nhân, và các tầng lớp nhân dân đã bị dồn đến bước đường cùng...Khi viết, tuy có dựa vào Kim Vân Kiều truyện, nhưng với kỳ công tái tạo, Truyện Kiều của nhà thơ đã trở thành viên ngọc vô giá của thể loại truyện thơ nói riêng và của nền văn học dân tộc Việt nói chung.
Cảm hứng hiện thực của tác phẩm được kết tinh vào nhân vật trung tâm Thúy Kiều tài sắc và đa nạn. Xây dựng hình tượng Thúy Kiều và nhiều nhân vật bất hạnh khác trong tác phẩm, tác giả một mặt đã thể hiện lòng thương vô hạn đối với các nạn nhân; đồng thời đã tố cáo, lên án và phản kháng mạnh mẽ mọi thế lực bạo tàn chà đạp lên thân phận con người, nhất là người Phụ nữ. Điều đó đã đưa tinh thần nhân đạo của thời đại lên đỉnh cao mới, chấp cánh cho tác giả tạo nên một giấc mơ hào hứng, cao cả nhuốm màu sắc lãng mạn. Đó là giấc mơ Từ Hải. Nhân vật này xuất hiện như một vị cứu tinh, giải thoát cho cả cái xã hội đau khổ, bế tắc...
Về hình thức nghệ thuật, ở đây hội tụ sự thành công của điệu thơ lục bát, của nghệ thuật ngôn ngữ, của các biện pháp tu từ, v.v...Dù tác phẩm còn bị hạn chế bởi tư tưởng định mệnh, nhưng nhìn chung Truyện Kiều vẫn là di sản quý báu của nền văn học Việt Nam...[5].

Tầm ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh miêu tả cảnh chị em Thúy Kiều gặp Kim Trọng trong ngày Tết Thanh minh của họa sĩ Lê Chánh, treo trong dinh Độc Lập cũ

Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều vẫn luôn tồn tại trong đời sống của dân tộc Việt. Từ đó, lẩy Kiều, trò Kiều, vịnh Kiều, tranh Kiều, bói Kiều... đã phát sinh trong cộng đồng người Việt. Bên cạnh đó, một số nhân vật trong truyện cũng trở thành nhân vật điển hình, như:

  • Sở Khanh: chỉ những người đàn ông phụ tình.
  • Tú bà: chỉ những người dùng phụ nữ để mại dâm, và thu lợi về mình.
  • Hoạn thư: chỉ những người phụ nữ có máu ghen thái quá, v.v....

Ngoài ra, Truyện Kiều còn là đề tài cho các loại hình khác, như âm nhạc, hội họa, sân khấu, điện ảnh, thư pháp vân vân. Hiện nay, Truyện Kiều đang được giảng dạy trong môn Ngữ văn lớp 9 của Việt Nam.

Liệt kê một số bản Truyện Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các bản in dưới đây, ở một số câu chữ có ít nhiều dị bản.

"Truyện Kiều" bản Chiêm Vân Thị (覘雲氏) với tựa "Thuý Kiều truyện tường chú" (翠翹傳詳注). Chữ "chiêm" 覘 ở đây bị viết ngược, hình bàng "kiến" 見 viết trước thanh bàng "chiêm" 占, tự hình rất giống chữ "thiếp" 貼

Tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Bản chữ Nôm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kim Vân Kiều tân truyện: Kim Ngọc lâu tàng bản, Tự Đức thứ 25 (1872).
  • Kim Vân Kiều tân truyện: Thịnh Mĩ đường tàng bản, Tự Đức thứ 32 (1879).
  • Kim Vân Kiều tân truyện: Quan Văn đường tàng bản, Tự Đức thứ 32 (1879).
  • Kim Vân Kiều tân truyện: Văn Nguyên đường tàng bản, Tự Đức thứ 32 (1879).
  • Kim Vân Kiều tân truyện: Bảo Hoa các tàng bản, Tự Đức thứ 32 (1879)
  • Thúy Kiều Truyện tường chú: Chiêm Vân Thị chú đính, Thành Thái (1905?)

...

Bản chữ Quốc ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Poème Kim Vân Kiều truyện: do Trương Vĩnh Ký phiên âm, in ở Sài Gòn năm 1875.
  • Kim Vân Kiều tân truyện: do Abel des Michels phiên âm, chú thích và dịch sang tiếng Pháp có kèm theo bản nôm gồm ba tập in ở Paris, 1884 - 1885.
  • Kim Vân Kiều tân truyện: do Edmond Nordemann phiên âm, in ở Hà Nội năm 1897.
  • Đoạn trường tân thanh: của Kiều Oánh Mậu chú thích, khắc in ở Hà Nội năm 1902.
  • Kim Vân Kiều tân tập: do nhóm Thời hiền thi tự khắc in năm 1906.
  • Kim Vân Kiều quảng tập truyện: Liễu Văn Đường tàng bản, (1914).
  • Kim Vân Kiều tân truyện: Phúc Văn đường tàng bản, (1918).
  • Kim Vân Kiều tân tập: Thời hiền thi tự, Quảng Thịnh đường tàng bản, (1922).
  • Kim Vân Kiều: Quan Văn đường tàng bản, (1923)

...

Ngoại ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Một số sách viết về Truyện Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào Duy Anh. Từ điển Truyện Kiều. Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội, 1974.
  • Phan Ngọc. Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều, 1985.
  • Đào Thái Tôn. Văn bản Truyện Kiều - Nghiên cứu và thảo luận. Nxb Hội nhà văn, 2001.
  • Nhiều tác giả. Truyện Kiều - Tác phẩm và dư luận. Nxb Văn học, 2002.
  • Nguyễn Quảng Tuân. Chữ nghĩa Truyện Kiều. Nxb Văn học, 2004.
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Thả một bè lau - Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán. Nxb Lá Bối.

...

Sách tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968.
  • Nguyễn Lộc, mục từ "Truyện Kiều" in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nguyễn Thạch Giang, Văn học thế kỷ 18. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2004.
  • Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (quyển thượng). Nhà xuất bản Trình bày, Sài Gòn, 1967.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Dương Quảng Hàm, tr. 379.
  2. ^ a ă Căn cứ theo GS. Nguyễn Lộc, tr. 1844.
  3. ^ Dẫn lại theo Thanh Lãng, tr. 764.
  4. ^ Ý kiến của GS. Dương Quảng Hàm, tr. 381.
  5. ^ Văn học thế kỷ 18, tr. 182.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]