Truyện Kiều
| Truyện Kiều Đoạn Trường Tân Thanh 斷腸新聲 |
|
|---|---|
|
Bản Đoạn trường tân thanh in năm 1902 và Kim Vân Kiều tân tập khắc in năm 1906. (chữ quốc ngữ) |
|
| Tác giả | Nguyễn Du (1766–1820) |
| Minh họa | Kim Vân Kiều1.png |
| Minh họa bìa | Hai bản Kim Vân Kiều tân truyện, bìa bên trái là "Liễu Văn đường tàng bản" in năm 1871, bên phải là "Bảo Hoa các tàng bản" in năm 1879. |
| Quốc gia | Việt Nam |
| Ngôn ngữ | tiếng Việt (Chữ Nôm) |
| Thể loại | Thơ |
| Kiểu sách | Sách |
Truyện Kiều (chữ Nôm: 傳翹) là tên gọi phổ biến của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh (chữ Hán: 斷腸新聲) của Nguyễn Du (1766–1820), một nhà thơ lớn của Việt Nam.
Mục lục |
Hoàn cảnh ra đời [sửa]
Đây là một một truyện thơ Nôm viết bằng thể lục bát. gồm 3.254 câu thơ, dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện viết ở khoảng đầu thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17 của Thanh Tâm Tài Nhân, một văn sĩ người Trung Quốc[1].
Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820). Lại có thuyết nói ông viết trước đi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn [2]. Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi. Hai bản in cũ nhất hiện còn là bản Liễu Văn Đường (1871) và bản Duy Minh Thị (1872), tức đều ở thời vua Tự Đức [2].
Lược truyện [sửa]
Tác giả nêu luận đề [sửa]
Nguyễn Du đem thuyết "tài mệnh tương đố" (tài và mệnh ghét nhau) làm luận đề cuốn truyện.
- Trăm năm trong cõi người ta,
- Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
- Trải qua một cuộc bể dâu,
- Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
- Lạ gì bỉ sắc tư phong
- Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen...
Tả hai chị em [sửa]
Vào khoảng thời vua Minh Thế Tông (1522-1566), trong một gia đình viên ngoại họ Vương có 3 người con, con cả là Vương Thuý Kiều, sau là Thuý Vân và Vương Quan là cậu út. Hai chị em Thúy Kiều và Thuý Vân thì "mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười", nhưng "so bề tài, sắc" thì Thúy Kiều lại hơn hẳn cô em.
- Đầu lòng hai ả tố nga,
- Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
- Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
- Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười...
Kiều thăm mộ Đạm Tiên [sửa]
Trong một lần đi tảo mộ vào tiết Thanh minh, khi đi qua mộ Đạm Tiên, một "nấm đất bên đàng", Kiều đã khóc thương và không khỏi cảm thấy ái ngại cho một "kiếp hồng nhan" "nổi danh tài sắc một thì" mà giờ đây "hương khói vắng tanh". Vốn là một con người giàu tình cảm và tinh tế nên Kiều cũng đã liên cảm tới thân phận của mình và của những người phụ nữ nói chung:
-
- Đau đớn thay phận đàn bà
- Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung…
Kiều gặp Kim Trọng [sửa]
Cũng trong ngày hôm đó, Kiều đã gặp Kim Trọng, là một người "vốn nhà trâm anh", "đồng thân" với Vương Quan, từ lâu đã "trộm nhớ thầm yêu" nàng. Bên cạnh đó thì Kim Trọng cũng là người "vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa". Tuy chưa kịp nói với nhau một lời nhưng sau cuộc gặp gỡ này thì "tình trong như đã, mặt ngoài còn e". Tiếp sau lần gặp gỡ ấy là mối tương tư:
-
- Người đâu gặp gỡ làm chi
- Trăm năm biết có duyên gì hay không
Kim Trọng vì tương tư Kiều nên đã quên hết cả thú vui hàng ngày, tìm cách chuyển đến ở gần nhà Kiều. Sau đó mấy tuần trăng thì Kim Kiều đã gặp nhau, Kiều đã nhận lời Kim Trọng và họ đã trao đổi món kỷ vật cho nhau. Nhiều lần Kim Trọng cũng muốn "vượt rào" nhưng Thuý Kiều là một người sắc sảo, cô đã thuyết phục được Kim Trọng:
-
- Vội chi liễu ép hoa nài,
- Còn thân ắt lại đền bồi có khi!
- Thấy lời đoan chính dễ nghe,
- Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân…
Kiều bán mình chuộc cha [sửa]
Tai họa đã đột ngột ập đến Vương gia trong lúc người thiếu nữ còn đang thổn thức với mối tình đầu. Trong hoàn cảnh bi đát như vậy, Kiều đành phải đi đến quyết định bán mình để chuộc cha, nhưng nàng không quên lời hẹn ước "trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai" với Kim Trọng trước khi chàng về Liêu Dương để chịu tang chú. Thuý Kiều đã nhờ cậy Thuý Vân thay mình trả lời hẹn ước với Kim Trọng:
-
- Cậy em, em có chịu lời
- Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa…
Trao duyên cho em xong, nàng cảm thấy xót thương cho thân phận của chính mình:
-
- Phận sao phận bạc như vôi
- Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
- Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
- Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây…
Do đau thương quá nên Thuý Kiều đã ngất đi trên tay người thân.
Kiều rơi vào tay Mã Giám Sinh và Tú bà. Mã Giám Sinh vốn là "một đứa phong tình đã quen" cùng với Tú bà mở hàng "buôn phấn bán hương", chuyên đi mua gái ở các chốn về "lầu xanh". Thấy Thuý Kiều như là một món hàng ngon, nhất quyết mua về, lấy tiếng là làm vợ nhưng sau khi "con ong đã tỏ đường đi lối về", Thuý Kiều đã bị Tú bà bắt phải tiếp khách. Nàng nhất quyết không chịu, tự vẫn bằng dao nhưng không chết. Tú bà đành nhượng bộ cho nàng ra ở lầu Ngưng Bích. Ở nơi này, nỗi nhớ người thân luôn luôn ấp ủ trong lòng đặc biệt là nỗi nhớ mối tình của nàng với Kim Trọng:
-
- Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
- Tin sương luống những rày trông mai chờ
- Bên trời góc bể bơ vơ
- Tấm son gột rửa bao giờ cho phai…
và nỗi nhớ thương cha mẹ của Kiều:
-
- Xót người tựa cửa hôm mai
- Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ.
- Sân Lai cách mấy nắng mưa
- Có khi gốc tử đã vừa người ôm…
Và nỗi buồn của người thiếu nữ được thể hiện qua những câu thơ chất chứa đầy cảm xúc:
-
- Buồn trông cửa bể chiều hôm
- Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
- Buồn trông ngọn nước mới sa
- Hoa trôi man mác biết là về đâu?
- Buồn trông nội cỏ rầu rầu
- Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
- Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
- Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi…
Kiều mắc lừa Sở Khanh [sửa]
Sống một mình giữa không gian mênh mông xa vắng đó nên khi gặp Sở Khanh, một gã có "hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng" và cũng khá "văn vẻ", cô như người đang sắp chết đuối vớ được cọc mà không còn bình tĩnh nhận ra lời lường gạt sáo rỗng của Sở Khanh.
-
- Than ôi! sắc nước hương trời,
- Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây?...
Kiều vội vàng tin Sở Khanh và cùng Sở Khanh trốn thoát khỏi lầu Ngưng Bích. Cô nào ngờ mình đã rơi vào lưới do Tú bà giăng sẵn để giữ cô lại vĩnh viễn ở lầu xanh. Chưa kịp cao chạy xa bay thì Tú bà đến và lúc này nàng mới rõ bản chất con người Sở Khanh:
-
- Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh,
- Một tay chôn biết mấy cành phù dung!...
Bị tú bà đánh, nàng đành phải chịu quy phục, mặc cho thể xác "đến phong trần, cũng phong trần như ai" và cảm thấy xót xa cho chính bản thân mình:
-
- Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
- Giật mình, mình lại thương mình xót xa…
Kiều gặp Thúc Sinh [sửa]
Thúc Sinh tuy đã có vợ là Hoạn Thư nhưng cũng là người "mộ tiếng Kiều nhi" từ lâu. Thúc Sinh trong tác phẩm này có lẽ là có diễn biến tình cảm, tâm tư mang tính của con người trong "đời thường" nhất, chứ không cách điệu nhiều như những nhân vật khác trong tác phẩm. Thế giới của Thúc Sinh là thế giới của đam mê và là sứ giả phong lưu của tình dục. Chưa có một "đấng nam nhi" nào trong truyện Kiều có cách nhìn nâng tấm thân của Kiều lên tầm thẩm mỹ như Thúc Sinh
-
- Rõ màu trong ngọc trắng ngà!
- Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên….
Do vậy Kiều đã ham sống và tự tin hơn về tương lai số phận của mình. Hai người vui vẻ bên nhau "ý hợp tâm đầu".
-
- Khi hương sớm khi trà trưa,
- Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn...
Thúc Sinh đã chuộc Thuý Kiều ra khỏi lầu xanh. Tuy nhiên, vì là gái lầu xanh Kiều đã không được Thúc Ông (bố của Thúc Sinh) thừa nhận. Thúc Ông đã đưa Kiều lên quan xét xử:
-
- Phong lôi nổi trận bời bời,
- Nặng lòng e ấp tính bài phân chia.
- Quyết ngay biện bạch một bề,
- Dạy cho má phấn lại về lầu xanh!...
Kiều cam tâm chịu kiếp lẽ mọn để được hưởng hạnh phúc yên bình của gia đình, tuy không được trọn vẹn với Thúc Sinh. Không chịu quay về lầu xanh nên lại thêm một lần nữa Kiều gặp cảnh khốn khổ:
-
- Dạy rằng: Cứ phép gia hình!
- Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.
- Phận đành chi dám kêu oan,
- Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày.
- Một sân lầm cát đã đầy,
- Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương.
Thấy Thúc Sinh đau khổ khi thấy Kiều vì mình mà gặp nạn, quan kia đã cho Kiều làm một bài thơ bày tỏ nỗi niềm. Đọc thơ của Kiều, vị quan khen ngợi rồi khuyên Thúc Ông nên rộng lượng chấp nhận Kiều lại cho đồ sính lễ cưới xin. Nhờ thế Kiều thoát kiếp thanh lâu nhưng chưa được bao lâu thì nàng lại mắc vạ với Hoạn Thư, vợ chính của Thúc Sinh.
Kiều và Hoạn Thư [sửa]
Khi biết chuyện, cha mẹ Thúc Sinh nổi giận đòi trả Kiều trở về chốn cũ, nhưng khi biết Thuý Kiều tài sắc vẹn toàn, có tài làm thơ, bố của Thúc Sinh đã phải thốt lên:
-
- Thương vì hạnh trọng vì tài
- Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba
Kiều đã ở cùng Thúc Sinh suốt một năm ròng và vẫn luôn khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả Hoạn Thư, họ vẫn chưa có con chung sau nhiều năm sống cùng nhau. Sau chuyến đi thăm và quay trở lại gặp Kiều, Thúc Sinh không ngờ rằng Hoạn Thư đã sai gia nhân đi tắt đường biển để bắt Thuý Kiều về tra hỏi. Thuý Kiều bị tưới thuốc mê bắt mang đi, còn mọi người trong nhà lúc đó cứ ngỡ cô bị chết cháy sau trận hỏa hoạn. Kiều trở thành thị tì nhà Hoạn Thư với cái tên là Hoa Nô. Lúc Thúc Sinh về nhà, nhìn thấy Thuý Kiều bị bắt ra chào mình, "phách lạc hồn xiêu", chàng nhận ra rằng mình mắc lừa của vợ cả. Hoạn Thư đã bắt Kiều phải hầu hạ, đánh đàn cho bữa tiệc của hai vợ chồng. Đánh đàn mà tâm trạng của Kiều đau đớn:
-
- Bốn dây như khóc như than
- Khiến người trong tiệc cũng tan nát lòng
- Cũng trong một tiếng tơ đồng
- Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm
Thế rồi, do thấy Kiều khóc nhiều, Hoạn Thư bảo Thúc Sinh tra khảo vì lý do gì. Thuý Kiều viết tờ khai nói rằng vì cha bị oan khiên, phải bán mình và bị lừa vào lầu xanh, sau đó có người chuộc ra làm vợ, rồi chồng đi vắng, nàng bị bắt đưa vào cửa nhà quan... rất tủi nhục, bây giờ chỉ mong được vào chùa tu cho thoát nợ trần. Đọc tờ khai xong, Hoạn Thư đồng ý cho Hoa Nô vào Quan Âm các sau vườn để chép kinh. Thực ra, Hoạn Thư đánh Kiều rất nhiều, Nguyễn Du miêu tả về "đòn ghen" của Hoạn Thư là "nhẹ như bấc, nặng như chì". Hoạn Thư đã ứng xử theo thường tình hiện hữu của dân gian, là "chút dạ đàn bà, ghen tuông thì cũng người ta thường tình!", "Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai". Hoạn Thư khéo léo phá vỡ dây tơ giữa Kiều và Thúc Sinh, làm Kiều ra đi một cách tự nguyện. Kiều trốn khỏi Quan Âm các và đã gặp Sư trưởng Giác Duyên (duyên giác ngộ?). Bà đã cho Kiều sang ở tạm nhà Bạc Bà, một Phật tử thường hay lui tới chùa. Ai ngờ "Bạc Bà cùng với Tú Bà đồng môn", Bạc Bà đã khuyên Kiều lấy cháu mình là Bạc Hạnh. Qua tay Bạc Hạnh, một lần nữa Kiều lại bị bán vào lầu xanh.
Kiều gặp Từ Hải [sửa]
Ở lầu xanh, Kiều "ngậm đắng nuốt cay" sống cuộc sống ô nhục. Một ngày đẹp trời, có một người khách ghé qua chơi, đó là Từ Hải, một anh hùng lừng danh thời đó: "Râu hùm hàm én mày ngài, vai năm tấc rộng, thân mười thước cao", tài năng phi thường "đường đường một đấng anh hào, côn quyền hơn sức lược thao gồm tài". Hai bên đã phải lòng nhau "Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa" và Từ Hải chuộc Kiều về chốn lầu riêng. Sống với nhau được nửa năm, Từ Hải lại "động lòng bốn phương", muốn ra nơi biên thuỳ chinh chiến. Thuý Kiều muốn xin đi cùng nhưng Từ Hải không cho đi:
-
- Nàng rằng:"phận gái chữ tòng"
- Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi"
- Từ rằng:"tâm phúc tương tri
- Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình..."
Trong lúc Từ Hải đi chinh chiến, nàng ở nhà nhớ tới bố mẹ chắc đã "da mồi tóc sương", còn em Thuý Vân chắc đang "tay bồng tay mang" vui duyên với Kim Trọng. Từ Hải sau đó đã chiến thắng trở về, mang binh tướng tới đón Kiều làm lễ vu quy.
Kiều báo ân trả oán [sửa]
Lúc vui mừng cũng là lúc Thuý Kiều nghĩ đến những ngày "hàn vi", nàng kể hết mọi chuyện cho Từ Hải và muốn có sự "ân đền oán trả". Những Bạc Bà, Bạc Hạnh, Sở Khanh,... đều bị chịu gia hình, còn những vị sư đã giúp đỡ Kiều trong cơn hoạn nạn đều được thưởng. Riêng Hoạn Thư nhờ khéo nói "Rằng tôi chút phận đàn bà. Ghen tuông thì cũng người ta thường tình" nên được tha. Sau đó Kiều có gặp sư Giác Duyên, được bà báo rằng 5 năm nữa hai người sẽ gặp nhau vì Kiều còn phải trải qua nhiều lận đận chưa đoàn tụ ngay được với gia đình.
Kiều tự vẫn [sửa]
Hồ Tôn Hiến bấy giờ là một quan tổng đốc của triều đình, mang nhiệm vụ đến khuyên giải Từ Hải đầu hàng và quy phục triều đình. Hồ Tôn Hiến đã bày mưu mua chuộc Thuý Kiều, đánh vào ham muốn có một cuộc sống "an bình" của phụ nữ, nàng đã thật dạ tin người và xiêu lòng nghe theo lời Hồ Tôn Hiến về thuyết phục Từ Hải ra hàng:
-
- Trên vì nước dưới vì nhà,
- Một là đắc hiếu hai là đắc trung...
Từ Hải đã phân vân:
-
- Một tay gây dựng cơ đồ
- Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành
- Bó thân về với triều đình
- Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu
- Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
- Vào luồng ra cúi công hầu mà chi
- Sao bằng riêng một biên thùy
- Sức này đã dễ làm gì được nhau
- Chọc trời khuấy nước mặc dầu
- Dọc ngang nào biết trên đầu có ai…
Sau đó, Hồ Tôn Hiến đã thừa cơ bao vây, nhìn thấy Từ Hải, Thuý Kiều định lao tới để tự vẫn nhưng chàng bị mắc mưu và đã "chết đứng giữa đàng". Thuý Kiều cảm thấy hối tiếc và dằn vặt bản thân:
-
- Mặt nào trông thấy nhau đây?
- Thà liều sống thác một ngày với nhau!..
Hồ Tôn Hiến đang đà thắng đã ép Kiều phải "thị yến dưới màn", Thuý Kiều đã khóc thương và xin được mang Từ Hải đi chôn cất. Hồ Tôn Hiến đã chấp nhận cho "cảo táng di hình bên sông". Biết nàng giỏi đàn, Hồ Tôn Hiến bắt nàng phải chơi, Kiều đã thể hiện nỗi lòng mình qua tiếng đàn:
-
- Một cung gió thảm mưa sầu,
- Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay!
- Ve ngâm vượn hót nào tày,
- Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu…
Sáng hôm sau, để tránh lời đàm tiếu về mình, Hồ Tôn Hiến đã gán ngay Kiều cho người Thổ quan. Trên con thuyền, Kiều nhớ tới lời của Đạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng "Sông Tiền đường sẽ hẹn hò về sau", nàng đã quyết định nhảy xuống sông tự vẫn.
Kim Trọng đi tìm Kiều [sửa]
Về phần Kim Trọng, sau khi hộ tang chú xong, quay trở lại thì biết tin gia đình Kiều gặp nạn, Kiều đã bán mình chuộc cha. Kim Trọng đau xót:
-
- Vật mình, vẫy gió, tuôn mưa
- Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai
- Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi
- Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê…
Mọi người trong nhà khuyên can hết lẽ, chàng nghe theo lời dặn của Kiều và đón cha mẹ Kiều cùng Thuý Vân sang nhà chăm lo phụng dưỡng, đồng thời vẫn đưa tin tìm kiếm nàng khắp nơi. Tuy "sâu duyên mới" nhưng chàng lại "càng dào tình xưa". Vương Quan và Kim Trọng sau đó đều đỗ đạt và làm quan. Sau nhiều ngày tháng tìm kiếm thì hai người mới dò la được thông tin của Thuý Kiều là đã trầm mình dưới sông Tiền Đường. Ra đến sông, mọi người gặp sư Giác Duyên ở đó, được biết là Thuý Kiều đã được bà cứu mang về cưu mang. Sau đó, mọi người được dẫn về gặp lại nàng Kiều, "mừng mừng tủi tủi".
Đoàn tụ [sửa]
Sau mười lăm năm lưu lạc, Thuý Kiều đã trở về đoàn viên với gia đình. Nhưng nàng chính là người sợ việc đoàn viên hơn ai cả. Trong việc tái ngộ này, Thuý Vân chính là người đầu tiên đã lên tiếng vun vào cho chị. Nhưng trong đêm gặp lại ấy, Thuý Kiều đã tâm sự với Kim Trọng:
-
- Thân tàn gạn đục khơi trong
- Là nhờ quân tử khác lòng người ta…
Nàng ghi nhận tấm lòng của Kim Trọng nhưng tự thấy mình không còn xứng đáng với chàng nữa.Tuy rằng ngoài mặt hai người đã đồng ý nhưng hai người đã thầm nói sẽ trở thành bạn "chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ".
Nguyễn Du đã gửi gắm toàn bộ thế giới quan của mình về xã hội phong kiến lúc đó qua các câu thơ nhận xét về cuộc đời lưu lạc của Thuý Kiều:
-
- Ngẫm hay muôn sự tại trời
- Trời kia đã bắt làm người có thân.
- Bắt phong trần phải phong trần
- Cho thanh cao mới được phần thanh cao…
Nhận xét khái quát [sửa]
Hai thái độ cực đoan về Truyện Kiều đã xảy ra kể từ khi tác phẩm ra đời, đó là "say mê và tôn sùng truyện đến cực độ và mạ lỵ chửi bới cũng hết điều". Dưới con mắt của một số người như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng...thì Truyện Kiều chỉ là một dâm thư. Huỳnh Thúc Kháng viết: "Nói cho đúng ra Truyện Kiều chỉ là một dâm thư, rõ ràng không có ích gì mà có hại. Ở xã hội ta từ có kẻ tán dương Truyện Kiều truyền bá học Kiều đến nay, đã biết bao lớp thanh niên say mê sóng sắc, chìm nổi bể tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà theo mốt đam mê của mình…"[3]
Tựu chung, "về phương diện văn chương thì ai củng công nhận Truyện Kiều là hay, nhưng về đường luân lý, theo các cụ là một quyển không nên cho đàn bà con gái xem" [4]. Bởi vậy trong dân gian đã có câu:
-
- Đàn ông chớ kể Phan Trần
- Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều.
Ngày nay, việc phân tích và đánh giá về nhiều góc cạnh của Truyện Kiều có nhiều; và về phương diện luân lý, việc đánh giá đã không còn khe khắt như trước. Và theo PGS. Nguyễn Thạch Giang, thì mặt ưu và mặt khuyết của tác phẩm, có thể đúc kết khái quát lại như sau:
- ... Truyện Kiều đã phản ảnh sinh động xã hội thời đại của tác giả, khi mà chế độ phong kiến đang suy thói đã bộc lộ đầy đủ tính chất mục nát, vô nhân, và các tầng lớp nhân dân đã bị dồn đến bước đường cùng...Khi viết, tuy có dựa vào Kim Vân Kiều truyện, nhưng với kỳ công tái tạo, Truyện Kiều của nhà thơ đã trở thành viên ngọc vô giá của thể loại truyện thơ nói riêng và của nền văn học dân tộc Việt nói chung.
- Cảm hứng hiện thực của tác phẩm được kết tinh vào nhân vật trung tâm Thúy Kiều tài sắc và đa nạn. Xây dựng hình tượng Thúy Kiều và nhiều nhân vật bất hạnh khác trong tác phẩm, tác giả một mặt đã thể hiện lòng thương vô hạn đối với các nạn nhân; đồng thời đã tố cáo, lên án và phản kháng mạnh mẽ mọi thế lực bạo tàn chà đạp lên thân phận con người, nhất là người Phụ nữ. Điều đó đã đưa tinh thần nhân đạo của thời đại lên đỉnh cao mới, chấp cánh cho tác giả tạo nên một giấc mơ hào hứng, cao cả nhuốm màu sắc lãng mạn. Đó là giấc mơ Từ Hải. Nhân vật này xuất hiện như một vị cứu tinh, giải thoát cho cả cái xã hội đau khổ, bế tắc...
- Về hình thức nghệ thuật, ở đây hội tụ sự thành công của điệu thơ lục bát, của nghệ thuật ngôn ngữ, của các biện pháp tu từ, v.v...Dù tác phẩm còn bị hạn chế bởi tư tưởng định mệnh, nhưng nhìn chung Truyện Kiều vẫn là di sản quý báu của nền văn học Việt Nam... [5].
Tầm ảnh hưởng [sửa]
Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều vẫn luôn tồn tại trong đời sống của dân tộc Việt. Từ đó, lẩy Kiều, trò Kiều, vịnh Kiều, tranh Kiều, bói Kiều... đã phát sinh trong cộng đồng người Việt. Bên cạnh đó, một số nhân vật trong truyện cũng trở thành nhân vật điển hình, như:
- - Sở Khanh: chỉ những người đàn ông phụ tình.
- - Tú Bà: chỉ những người dùng phụ nữ để mại dâm, và thu lợi về mình.
- -Hoạn Thư: chỉ những người phụ nữ có máu ghen thái quá, v.v....
Ngoài ra, Truyện Kiều còn là đề tài cho các loại hình khác, như âm nhạc, hội họa, sân khấu, điện ảnh, thư pháp, v.v...Và hiện nay, Truyện Kiều đang được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 10.
Liệt kê một số bản Truyện Kiều [sửa]
Trong các bản in dưới đây, ở một số câu chữ có ít nhiều dị bản.
Tiếng Việt [sửa]
Bản chữ Nôm [sửa]
- Kim Vân Kiều tân truyện: Kim Ngọc lâu tàng bản, Tự Đức thứ 25 (1872).
- Kim Vân Kiều tân truyện: Thịnh Mĩ đường tàng bản, Tự Đức thứ 32 (1879).
- Kim Vân Kiều tân truyện: Quan Văn đường tàng bản, Tự Đức thứ 32 (1879).
- Kim Vân Kiều tân truyện: Văn Nguyên đường tàng bản, Tự Đức thứ 32 (1879).
- Kim Vân Kiều tân truyện: Bảo Hoa các tàng bản, Tự Đức thứ 32 (1879)...
- Thúy Kiều Truyện tường chú: Chiêm Vân Thị chú đính, Thành Thái (1905?), v.v…
Bản chữ Quốc ngữ [sửa]
- Poème Kim Vân Kiều truyện: do Trương Vĩnh Ký phiên âm, in ở Sài Gòn năm 1875.
- Kim Vân Kiều tân truyện: do Abel des Michels phiên âm, chú thích và dịch sang tiếng Pháp có kèm theo bản nôm gồm 3 tập in ở Paris, 1884 - 1885.
- Kim Vân Kiều tân truyện: do Edmond Nordemann phiên âm, in ở Hà Nội năm 1897.
- Đoạn trường tân thanh: của Kiều Oánh Mậu chú thích, khắc in ở Hà Nội năm 1902.
- Kim Vân Kiều tân tập: do nhóm Thời hiền thi tự khắc in năm 1906.
- Kim Vân Kiều quảng tập truyện: Liễu Văn Đường tàng bản, (1914).
- Kim Vân Kiều tân truyện: Phúc Văn đường tàng bản, (1918).
- Kim Vân Kiều tân tập: Thời hiền thi tự, Quảng Thịnh đường tàng bản, (1922).
- Kim Vân Kiều: Quan Văn đường tàng bản, (1923), v.v...
Ngoại ngữ [sửa]
- Kim Vân Kiều, bản tiếng Nhật, Aoi Komatsu, Tokyo, 1949.
- Kim Vân Kiều, bản tiếng Trung Quốc, Hoàng Dật Cầu, Bắc Kinh, 1959.
- Kiều, bản tiếng Tiệp, Gustav Franck, Praha, 1957
- Kim Vân Kiều, bản tiếng Pháp, Xuân Việt, Xuân Phúc, Paris, 1961.
- Kim Vân Kiều, bản tiếng Anh, Lê Xuân Thuỷ, Sài Gòn, 1963.
- Das Mädchen Kiêu, bản tiếng Đức, in năm 1964.
- Kiều, bản tiếng Pháp, Nguyễn Khắc Viện, Hà Nội, 1965.
- Kim och Kieu, bản tiếng Thuỵ Điển, Magnus Hedlund, Claes Hylinger, Lars Lindvall, Stockholm, 1969.
- The tale of Kieu, bản tiếng Anh, Huỳnh Sanh Thông, New York, 1973.
- Kim Vân Kiều tân truyện, bản tiếng Nhật, Takeuchi Yonosuke, Tokyo, 1985
- Histoire de Kieu, bản tiếng Pháp, Lê Cao Phan, Hà Nội, 1994.
- Kiều, bản tiếng Anh, Michael Councell, Luân Đôn
- Kim Wen Kieov, bản tiếng Ba Lan, Vacsava, (?).
Một số sách viết về Truyện Kiều [sửa]
- Đào Duy Anh. Từ điển Truyện Kiều. Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội, 1974.
- Phan Ngọc. Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều, 1985.
- Đào Thái Tôn. Văn bản Truyện Kiều - Nghiên cứu và thảo luận. Nxb Hội nhà văn, 2001.
- Nhiều tác giả. Truyện Kiều - Tác phẩm và dư luận. Nxb Văn học, 2002.
- Nguyễn Quảng Tuân. Chữ nghĩa Truyện Kiều. Nxb Văn học, 2004.
- Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Thả một bè lau - Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán. Nxb Lá Bối.
- v.v…
| Wikisource tiếng Việt có toàn văn tác phẩm về: |
Sách tham khảo chính [sửa]
- Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu. Trung tâm học liệu xuất bản, Sài Gòn, 1968.
- Nguyễn Lộc, mục từ “Truyện Kiều” in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
- Nguyễn Thạch Giang, Văn học thế kỷ 18. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2004.
- Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (quyển thượng). Nhà xuất bản Trình bày, Sài Gòn, 1967.
Chú thích [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
- [1] Nguyễn Cẩm Xuyên, “Từ Ghi Chép Về Vương Thúy Kiều Trong Minh Sứ Đến Truyện Kiều Của Nguyễn Du”, tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 750, ngày 10.6.2011.
- [2] Nguyễn Cẩm Xuyên, Nguyễn Du không dịch “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân ra tiếng Việt, tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 762, ngày 10/ 10/ 2011.
- [3] Nguyễn Cẩm Xuyên, “Nhất phiến tài tình thiên cổ luỵ”, tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 747, ngày 10/5/2011
- [4] Nguyễn Thúy Hồng, “Từ ngữ Việt và từ ngữ Hán Việt trong ngôn ngữ nghệ thuật truyện Kiều”, Đại học Sư phạm Hà Nội I, 1995
- [5] Vũ Thị Tuyết, “Vấn đề truyện Kiều qua các thời kỳ lịch sử (Từ khi tác phẩm ra đời đến nay)”, 1996.
- [6] Jang Soo Bae, “So sánh truyện Kiều và truyện Xuân Hương] của Triều Tiên” , 2000.
- Truyện Kiều: 5 kỷ lục thế giới và 7 kỷ lục Việt Nam kỳ 1, kỳ 2 và kỳ cuối
- Bài giảng phân tích Truyện Kiều của Nguyễn Du tại Trường Đại học Cần Thơ[liên kết hỏng]
- Kỷ lục thư pháp Truyện Kiều dài nhất Việt Nam
- 200 năm nghiên cứu và bàn luận Truyện Kiều trên báo Nhân dân
- Phiên bản Truyện Kiều mới ở Thanh Hoá trên Thanh niên Online [liên kết hỏng]
- Bản dịch mới của truyện Kiều (Vladislav Zhukov)
- Kim Vân Kiều - Thơ: Nguyễn Du - Nhạc: Quách Vĩnh Thiện (77 bài hát nguyên văn thơ Truyện Kiều)
- Truyện Kiều Online
- Tranh nàng Kiều - Báo Ảnh Việt Nam
|
|||||||||||