Thúy Kiều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thúy Kiều
Sinh Vương Thúy Kiều
1524[1]
Sơn Đông, Trung Quốc
Mất 1556[2]
Sông Tiền Đường
Nguyên nhân mất Nhảy sông tự vẫn
Nơi an táng Sông Tiền Đường
Quốc tịch Trung Quốc
Quốc tịch Trung Quốc
Học vấn Tự học

Vương Thúy Kiều (tiếng Trung: 王翠翹, ?-1556), người Lâm Truy, Sơn Đông (nay là Lâm Truy, Truy Bác, Sơn Đông).

Do phải trả nợ cho cha mẹ nên Kiều phải vào kĩ viện tại Lâm Truy, là danh kĩ Tần Hoài, sau gặp Từ Hải, khi đó là một tướng cướp trên biển, và trở thành vợ của ông này. Sau này nghe lời Hồ Tông Hiến khuyên Từ Hải quy hàng nhà Minh vào năm 1556. Sau khi quy hàng, Từ Hải bị Trần Đông bức bách, phải nhảy xuống nước tự tử. Vương Thúy Kiều bị quan binh nhà Minh giải về, đến sông Tiền Đường đã nhảy xuống nước tự tử.

Trong văn chương[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng Vương Thúy Kiều được miêu tả trong các tác phẩm như Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, phóng tác từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân hay Thu hổ khâu của Vương Long, Hổ phách thi của Diệp Trĩ Phỉ.[cần dẫn nguồn]

Đoạn trường tân thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Một tác phẩm của Nguyễn Du có tên gọi là "truyện Kiều" Gồm 3254 câu thơ lục bát miêu tả cuộc đời éo le của nàng theo trí tưởng tượng của Nguyễn Du về nàng Kiều và những tai ương mà Kiều gặp phải do vẻ đẹp và tài năng của nàng mang lại.

Hoàn cảnh gia đình của Thúy Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

Thuý Kiều sinh ra trong một gia đình "thường thường bậc trung" nhưng đó là gia đình gia giáo hạnh phúc. Kiều là chị cả, hai em là Thúy VânVương Quan.

Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

Kiều bị hành hạ về thể xác[sửa | sửa mã nguồn]

Là một cô gái liễu yếu đào tơ nhưng phải chịu đánh đập. Tú Bà sau khi lừa được Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích đã đánh đập Thuý Kiều rất dã man. Sau đó Thuý Kiều lại phải chịu một trận đòn của Thúc ông "uốn lưng thịt đổ cất đầu máu sa" hay " Trúc côn ra sức đập vào/Thịt nào chẳng nát xương nào chẳng tan".

Kiều bị đày đoạ về tinh thần[sửa | sửa mã nguồn]

Mối tình đầu vừa chớm nở, Kiều đang sống trong hạnh phúc vậy mà phải trao duyên cho em gái, buộc phải quên đi hạnh phúc mà mình đã nắm trong tầm tay. Từ một cô gái sống trong cảnh "êm đềm trướng rủ màn che", Kiều bỗng dưng trở thành hàng hoá để người ta xem xét, so đo, cò kè, ngã giá. Đây là sự xúc phạm đến nhân phẩm, vì thế trong suốt cuộc mua bán, Kiều chỉ biết câm lặng đau khổ.

Từ một cô gái trinh trắng, Kiều đã rơi vào lầu xanh, đây là nỗi khổ, nỗi nhục lớn nhất mà Kiều phải chịu đựng, phải chịu cảnh "Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm"

Khi là vợ Thúc Sinh, Kiều đã phải đàn hát thâu đêm để cho Thúc Sinh và Hoạn Thư uống rượu, thưởng đàn. Bị bán vào lầu xanh lần thứ hai, Kiều gặp Từ Hải. Từ Hải đã mang đến cho Kiều cuộc sống hạnh phúc và đưa Kiều lên vị trí xứng đáng nhưng rồi Kiều đã nhẹ dạ cả tin, khuyên Từ Hải ra hàng và khiến Từ Hải thua trận phải chết đứng.

Khi chồng vừa chết, Thuý Kiều phải đánh đàn hầu rượu Hồ Tôn Hiến rồi bị ép gả cho tên thổ quan và phải trẫm mình xuống sông Tiền Đường tự vẫn.

Thuý Kiều là điển hình cho số phận bi thảm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Hiện thân của vẻ đẹp và tài hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Vẻ đẹp hình thức[sửa | sửa mã nguồn]

Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

Kiều có vẻ đẹp sắc sảo mặn mà. Tả Kiều Nguyễn Du sử dụng bút pháp đặc tả đôi mắt để qua đó nói lên vẻ đẹp trong thế giới tâm hồn của nhân vật. Kiều đẹp đến mức hoa ghen liễu hờn, thiên nhiên cũng sinh lòng đố kị, vì thế mà số phận long đong cực khổ. Điều này cho thấy sắc đẹp Kiều đã đạt đến độ hoàn mĩ.

Vẻ đẹp về phẩm chất tâm hồn[sửa | sửa mã nguồn]

Kiều có tâm hồn trong sáng và trái tim đa cảm: khi đi du xuân cùng em, gặp mộ Đạm Tiên, người phụ nữ xấu số không quen biết, Kiều đã tỏ lòng thương cảm, Kiều luôn luôn hiểu và cảm nhận được nỗi đau khổ của người khác và tìm cách giải quyết.

Kiều là người con hiếu thảo: khi gia đình mắc oan Kiều đã hi sinh bản thân mình, hi sinh hạnh phúc của cá nhân mình để cứu cha, cứu em và chữ hiếu của Kiều đặt cao hơn tất cả và được thể hiện bằng hành động.

Trong suốt quãng đời lưu lạc, lúc nào Kiều cũng sống trong băn khoăn day dứt vì không làm tròn trách nhiệm của người con đối với cha mẹ. Khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, Kiều cũng không nguôi nhớ về cha mẹ.

Kiều có một trái tim chung thuỷ, ý thức vị tha. Tác giả đã ca ngợi tình yêu Kim - Kiều hồn nhiên, trong sáng và táo bạo, Kiều đã chủ động đến với Kim Trọng. Thái độ chủ động ấy ta ít gặp trong xã hội phong kiến, Kiều đã chống lại quan điểm của xã hội phong kiến "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy". Tình yêu rất đẹp bởi bắt nguồn từ hai trái tim, rất chung thuỷ nhưng cũng rất biết hi sinh.

Trong mười lăm năm lưu lạc, Kiều luôn nghĩ tới Kim Trọng, băn khoăn day dứt vì mình không mang đến hạnh phúc cho người mình yêu, mối tình Kim - Kiều chính là biểu tượng cho khát vọng hạnh phúc của con người.

Vẻ đẹp tài năng[sửa | sửa mã nguồn]

Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên chương
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân

Kiểu giỏi về âm luật, giỏi đến mức "làu bậc". Cây đàn mà nàng chơi là cây Hồ cầm; tiếng đàn của nàng thật hay "ăn đứt" bất cứ nghệ sĩ nào. Kiều còn biết sáng tác âm nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là một "thiên bạc mệnh" nghe buồn thê thiết "não nhân", làm cho lòng người sầu não, đau khổ. Các từ ngữ: sắc sảo, mặn mà, phần hơn, ghen, hờn, nghiêng nước nghiêng thành, đòi một, hoạ hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ mùi, lầu bậc, ăn đứt, bạc mệnh, não nhân - tạo nên một hệ thống ngôn ngữ cực tả tài sắc và hé lộ, dự báo số phận bạc mệnh của Kiều, như ca dao lưu truyền:

"Một vừa hai phải ai ơi!
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen".

Phê phán[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Công Trứ đã tặng Thúy Kiều hai câu thơ:

Bạc mệnh chẳng làm người tiết nghĩa,
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm!

Ý nói khi bị số phận đưa đẩy đến lầu xanh hai lần, Thúy Kiều đã không chọn cái chết để bảo toàn tiết hạnh, vậy phải chịu những đau đớn, tủi nhục của kiếp sống kỹ nữ, cũng là đáng đời.

Nhà thơ Tản Đà bình luận về hành vi của Thúy Kiều sau khi gây ra cái chết cho Từ Hải:

Đôi hàng nước mắt, đôi làn sóng
Nửa đám ma chồng, nửa tiệc quan
Tổng đốc có thương người bạc phận,
Tiền Đường chưa chắc mả hồng nhan

Bài thơ có ý trách Thúy Kiều mới chôn cất Từ Hải tại bờ sông, sao lại có thể ngồi đánh đàn mua vui cho những kẻ giết chồng mình? Dù Hồ Tôn Hiến có nhỏ một giọt lệ xót thương, nhưng dòng nước của sông Tiền Đường cũng cảm thấy ghét mà không chấp nhận làm nơi chôn thân của một người đàn bà như vậy.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mao Khôn: "Kỉ tiễu trừ Từ Hải bản mạt"
  • Ngu sơ tân chí
  • Tưởng Tinh Dục: Minh Thanh tiểu thuyết hí khúc trung đích Vương Thúy Kiều cố sự

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Về chuyện tuổi tác ba chị em Thúy Kiều THỨ TƯ, 18 THÁNG 3 2009 21:40
  2. ^ Tự tử trên sông Tiền Đường sau thất bại của Từ Hải