Phóng viên không biên giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phóng viên không biên giới
Thành lập 1985
Tình trạng pháp lý Đang hoạt động
Trụ sở chính Paris, Pháp
Số nhân viên khoảng 120
Trang web en.rsf.org

Phóng viên không biên giới hay Ký giả không biên giới (tiếng Pháp: Reporters sans frontières) là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, với mục đích bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tổ chức hoạt động dựa trên điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Phóng viên không biên giới do nhà báo người Pháp Robert Ménard thành lập năm 1985. Tên của nó được chọn dựa theo tên của tổ chức Bác sĩ không biên giới.

Ngoài tên chính thức tiếng Pháp Reporters sans frontières (RSF), tổ chức này còn có tên chức thức tiếng Anh: Reporters Without Borders hay RWB, và tiếng Tây Ban Nha: Reporteros Sin Fronteras

Tổ chức và tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Phóng viên không biên giới có văn phòng quốc tế tại Paris, 9 phân hội quốc gia tại châu Âu và 5 văn phòng quốc gia tại Bắc Mỹ và châu Á. Ngoài ra tổ chức còn hoạt động chung với 130 thông tín viên trên khắp các châu lục cũng như với 14 tổ chức đảng phái độc lập với chính phủ.

Tổ chức Phóng viên không biên giới có ngân sách hằng năm vào khoảng 4 triệu Đô la Mỹ, công bố thu nhập trong năm 2006 bao gồm:

Theo điều tra của 2 nhà báo thuộc đài truyền thanh và truyền hình nhà nước WDR (Đức) tổ chức Phóng viên không biên giới nhận được nhiều ủng hộ từ nhà tỉ phú Mỹ George Soros, người đã từng ủng hộ công đoàn Solidarność hằng triệu Đô la Mỹ, và từ Quỹ quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy), là tổ chức mà 90% ngân sách xuất phát từ ngân sách quốc gia của Hoa Kỳ và thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ[2].[3]. Cũng thuộc vào trong số những nhà tài trợ là nhà công nghiệp vũ khí và "ông hoàng" truyền thông đại chúng của Pháp Serge Dassault, tập đoàn truyền thông đại chúng Vivendi và nhà tỉ phú François Pinault[4]. Ngoài ra công ty quảng cáo nổi tiếng Saatchi & Saatchi tại New York đều thực hiện miễn phí toàn bộ các hoạt động chung quanh quan hệ công chúng cho tổ chức này.

Hằng năm, vào Ngày Nhân quyền, tổ chức Phóng viên không biên giới trao tặng Giải Nhân quyền cho những phóng viên nổi bật. Năm 2002 giải được trao cho nhà báo người Nga Grigori Pasko, năm 2004 cho nhà báo và họa sĩ biếm họa Maroc Ali Lmrabet, Michèle Montas từ Haiti và nhật báo châu Phi Daily News. Năm 2005 giải được trao cho Massoud Hamid (Syria), nhà báo Trung Hoa Zhao Yan (赵岩), đài truyền hình độc lập Tolo TV tại Afganistan và Liên minh Quốc gia của các nhà báo Somalia. Năm 2006 là cho nhà báo Win Tin từ Myanma, tờ báo Nga Novaya gazeta, tổ chức nhà báo Congo Journaliste en danger và người bất đồng chính kiến Guillerm Farinas Hernández từ Cuba.

Tổ chức Phóng viên không biên giới được Quốc hội châu Âu tặng Giải Sakharov, là giải thưởng dành cho cá nhân hay tổ chức đã tích cực hoạt động bảo vệ nhân quyền. Tháng 7 năm 1997 tổ chức nhận được Giải vì Báo chí và Dân chủ của Tố chức An ninh và Hợp tác châu Âu.

Chỉ số tự do báo chí[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Phóng viên không biên giới công bố hằng năm Chỉ số tự do báo chí, một danh sách xếp hạng tự do báo chí trên thế giới. Chỉ số này được công bố lần đầu tiên năm 2002. Chỉ số được lập thành dựa trên những khảo cứu được trả lời từ các tổ chức liên kết, thông tín viên của tổ chức cũng như là từ những nhà báo, nhà nghiên cứu, luật gia và nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới.

Phóng viên không biên giới hỏi những cuộc tấn công dùng bạo lực, giết người hay bắt bớ nhưng cũng điều tra về áp lực gián tiếp chống lại tự do báo chí trong 167 nước trên thế giới. Tổ chức nhấn mạnh rằng chỉ số này chỉ đo độ tự do báo chí chứ không so sánh chất lượng của báo chí của từng nước một. Chỉ số cũng thẩm định áp lực từ những tổ chức phi chính phủ như ETATây Ban Nha.

Dưới đây là danh sách 10 nước đứng đầu và 10 nước đứng cuối trong Chỉ số tự do báo chí năm 2007. Có thể tham khảo danh sách đầy đủ tại đây.

Chỉ số tự do báo chí hằng năm
do Phóng viên không biên giới công bố
Thứ tự Quốc gia Chỉ số Chú thích
2007 2007 2006 2005 2004 2003 2002
1  Iceland 0.75 0.50 0.50 0.50 0.50 0.50
1  Na Uy 0.75 2.00 0.50 0.50 0.50 0.50
3  Estonia 1.00 2.00 1.50 2.00 2.50  
3  Slovakia 1.00 2.50 0.75 0.50 2.50  
5  Bỉ 1.50 4.00 4.00 4.00 1.17 3.50
5 Flag of Finland (bordered).svg Phần Lan 1.50 0.50 0.50 0.50 0.50 0.50
5 Flag of Sweden.svg Thụy Điển 1.50 4.00 2.00 2.00 1.50 1.50
8  Đan Mạch 2.00 5.00 0.50 0.50 1.00 3.00
8  Ireland 2.00 0.50 0.50 0.50 2.83 1.00
8 Flag of Portugal.svg Bồ Đào Nha 2.00 3.00 4.83 4.50 5.17 1.50
... ... ... ... ... ... ... ...
... ... ... ... ... ... ...  
160  Uzbekistan 74.88 71.00 66.50 52.13 61.50 45.00
161  Lào 75.00 67.50 66.50 64.33 94.83 89.00
162  Eritrea  79.25 67.25 73.25 86.88 89.17 81.25
163  Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Hoa đại lục)  89.00 94.00 83.00 92.33 91.25 97.00
164  Myanmar 93.75 94.75 88.83 103.63 95.50 96.83
165  Cuba 96.17 95.00 87.00 106.83 97.83 90.25
166  Iran 96.50 90.88 89.17 78.30 89.33 48.25
167  Turkmenistan 103.75 98.50 93.50 99.83 82.83 91.50
168  CHDCND Triều Tiên 108.75 109.00 109.00 107.50 99.50 97.50
169 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam 114.75 97.50 99.75 93.25 91.50 83.67

Phê phán[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhà phê bình cáo buộc tổ chức Phóng viên không biên giới đã tường trình về việc phân biệt đối xử nhà báo một cách có chọn lọc trước. Việc chọn lọc các nước mang định hướng của sự chọn lọc từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, bỏ qua tất cả các tường trình về những hoạt động chống lại nhà báo trong những nước đồng minh của Hoa Kỳ (Philippines, Ả Rập Saudi) hay chính trong Hoa Kỳ.[5].

  • Tổ chức đã im lặng nhiều năm trong vụ người quay phim của Al Jazeera, Sami Al-Haj, đã bị bắt cóc trong Pakistan lúc đang trên đường công tác đến Afghanistan, bị tra tấn và vào ngày 13 tháng 6 năm 2002 đã bị dẫn về Guantánamo.[6][7]
  • Tổ chức hoàn toàn không nói gì về vụ của nhà báo người da đen Mumia Abu-Jamal[2].
  • Việc 16 nhà báo bị giết chết trong lần NATO không kích đài truyền hình Nam Tư RTS cũng không được nhắc đến trong bất cứ một bản tường trình hằng năm nào của tổ chức.[4].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phóng viên không biên giới: Income and expenditure 31/12/2006
  2. ^ a ă Nhật báo Junge Welt: Mission Desinformation 01/08/2007
  3. ^ Telepolis: Reporter ohne Grenzen im Dienste des US-Außenministeriums? 08/05/2005
  4. ^ a ă José Manzaneda: Reporteros sin fronteras... morales 10/02/06
  5. ^ Volker Bräutigam: Reporter ohne Scham-Grenzen, 4/5/2006
  6. ^ Voltairenet.org: Reporters without Borders remembers (lately) Sami Al Haj, 2 tháng 3 2006
  7. ^ Salim Lamrani: Reporters without Borders Keeps silence about journalist tortured in Guantánamo, Voltairenet.org, 7 tháng 2 2006

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]