Cách mạng tháng Bảy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cách mạng tháng Bảy
Eugène Delacroix - La liberté guidant le peuple.jpg
Nữ thần Tự do dẫn dắt nhân dân của Eugène Delacroix
.
Thời gian 27, 2829 tháng 7 năm 1830
Địa điểm Paris
Nguyên nhân bùng nổ Chiếu dụ Saint-Cloud
Kết quả Phái tự do chiến thắng
Charles X thoái vị
Tham chiến
Quân đội hoàng gia Phái tự do
Chỉ huy
Auguste de Marmont  
Lực lượng
10.000 lính 10.000 người nổi dậy
Tổn thất
200 tử vong 800 tử vong
.

Cách mạng tháng Bảy là cuộc cách mạng tại Pháp, diễn ra chủ yếu tại Paris, vào tháng 7 năm 1830 dưới thời Bourbon phục hoàng. Trong giai đoạn cai trị của Charles X, những mâu thuẫn giữa hai phe tự do và bảo hoàng đã gây nên các biến động chính trị kéo dài. Mùa hè năm 1829, Charles X đưa Jules de Polignac, một người bảo hoàng, lên giữ chức thủ tướng, thành lập một chính phủ mới. Trước những chống đối của các nghị sĩ phái tự do, nhà vua giải tán Nghị viện và đỉnh điểm là chiếu dụ Saint-Cloud ngày 26 tháng 7 năm 1830 đã khiến những người đối lập nổi dậy.

Trong ba ngày 27, 28, 29, người dân Paris dựng chướng ngại vật trên đường phố, chống lại quân đội của Thống chế Marmont. Cuộc xung đột đã khiến 200 quân hoàng gia và 800 người nổi dậy thiệt mạng. Charles X cùng gia đình chạy khỏi Paris. Sau khi do dự giữa nền cộng hòaquân chủ, các nghị sĩ đồng ý đưa Công tước Orléans, thuộc nhánh thứ của dòng họ Bourbon, lên ngôi vua. Cách mạng tháng Bảy diễn ra trong thời gian ngắn ngủi, không chấm dứt nền quân chủ mà chỉ kết thúc thời kỳ trị vì của Charles X. Công tước Orléans trở thành Louis-Philippe I, đăng quang ngày 9 tháng 8 với tước hiệu Vua của người Pháp—không còn xưng Vua nước Pháp như các vị quân vương nhà Bourbon trước đó—bắt đầu cho nền Quân chủ tháng Bảy.

Diễn ra trong ba ngày từ 27 tới 29, Cách mạng tháng Bảy được gọi trong tiếng PhápTrois Glorieuses, có nghĩa Ba ngày vinh quang.

Nguyên nhân cuộc cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Đệ nhất đế chế, dòng họ Bourbon phục hoàng một thời gian ngắn rồi Napoléon Bonaparte từ đảo Elba quay trở lại ngôi hoàng đế. Thất bại ở trận Waterloo, Vương triều 100 ngày của Napoléon chấm dứt. Louis XVIII trở về ngày 28 tháng 4 năm 1814, nhà Bourbon lấy lại ngai vàng. Ngày 4 tháng 6 năm 1814, Louis XVIII đồng ý với Pháp điểm giới hạn bớt quyền lực của nhà vua. Văn bản này được thông qua ở cả Viện công khanhNghị viện.

Ngày 16 tháng 9 năm 1824, sau một thời gian bệnh tật kéo dài, Louis XVIII mất ở tuổi 69 tuổi mà không có con nối dõi. Charles X, khi đó 66 tuổi, trở thành người kế vị. Ngược lại với người anh trai, Charles X không biết thích nghi với những biến đổi của lịch sử. Nhà vua đăng quang ngày 21 tháng 5 năm 1825 tại nhà thờ Đức Bà Reims trong nghi thức truyền thống của hoàng tộc Capetien. Dư luận cho rằng Charles X đang cố gắng quay lại nền quân chủ cũ. Trong cuộc bầu cử năm 1827, phái tự do chiếm đa số trong quốc hội. Charles X chấp nhận chỉ định một thủ tướng nhằm trung hòa giữa hai phe bảo hoàng và tự do. Jean-Baptiste Sylvère Gay, tử tước Martignac, trở thành thủ tướng, thành lập một chính phủ nửa tự do, nửa chuyên quyền.

Các nhân vật quan trọng trong cuộc Cách mạng tháng Bảy
François Pascal Simon Gérard 006.JPG
Charles X
1757 – 1836
Vua Pháp từ 1824
Thuộc nhánh trưởng dòng họ Bourbon
Louis-Philippe, roi des Français.jpg
Louis-Philippe I
1773 – 1850
Công tước Orléans
Nhánh thứ dòng họ Bourbon
Jules de Polignac (1780-1847).jpg
Jules de Polignac
1780 – 1847
Thủ tướng từ 8 tháng 8 năm 1829
Cựu đại sứ tại Anh
Adolphe Thiers.jpg
Adolphe Thiers
1797 – 1877
Nhà báo, luật sư
Năm 1871 trở thành Tổng thống thứ 2 của Pháp
Marmont.jpg
Thống chế Marmont
1774 – 1852
Trong trận Paris cuối Đệ nhất đế chế, dẫn 20 ngàn lính về Essonne
Bị coi là kẻ phản bội
Marquis de la Fayette.jpg
Hầu tước La Fayette
1757 – 1834
Từng tham gia Cách mạng Hoa Kỳ
Thủ lĩnh phái cộng hòa

Thành lập chính phủ Polignac[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận thấy thất bại trong việc thỏa ước, Charles X ngầm chuẩn bị một bước ngoặt chính trị. Trong mùa hè 1829, khi Nghị viện đang nghỉ, Charles X bất ngờ thải hồi Jean-Baptiste Sylvère Gay, thay thế bằng công tước Jules de Polignac. Tin tức được đăng trên tờ Le Moniteur ngày 8 tháng 8 có hiệu ứng như một trái bom. Jules de Polignac vốn là con trai của Yolande de Polastron, bạn thân của Marie-Antoinette và điều này gợi lại những hoài niệm xấu về triều đình Versailles trước đây. Bên cạnh đó, bộ trưởng Bộ Nội vụ François Régis de La Bourdonnais là một người bảo hoàng cực đoan. Còn bộ trưởng Bộ Chiến tranh, Louis Auguste Victor de Ghaisne de Bourmont, từng theo Napoléon rồi lại phản lại vài ngày trước trận Waterloo năm 1815.

Tất cả những điều này khiến phái đối lập phản ứng mạnh mẽ. Ngày 14 tháng 8 năm 1829, Louis-François Bertin, giám đốc tờ Journal des débats viết: “Coblentz, Waterloo, 1815: ba yếu tố, ba nhân vật của nội các. Hãy nhìn theo bất cứ cách nào mà bạn muốn, khía cạnh nào cùng làm họ sợ hãi, khía cạnh nào cũng làm họ tức tối. Hãy nén, vắt cái nội các này, nó chỉ nhỏ từng giọt nhục nhã, rủi ro và sầu thảm [...]. Triều đình với các mối hiếm thù cũ, lưu vong và thành kiến, giới tăng lữ sợ hãi tự do [...]”. Louis-François Bertin kết thúc bài báo nổi tiếng: “Thương thay nước Pháp! Thương thay nhà vua!”.[1]

Trong chính phủ khi đó còn nhiều bộ trưởng quan trọng khác, như Jean de Courvoisier của Bộ Tư pháp, Christophe de Chabrol de Crouzol Bộ Thương mại, Guillaume Isidore de Montbel, Bộ Giáo dục, Charles Lemercier de Longpré Bộ Hàng hải, là những người nghiêng về phái tự do. Khi François Régis de La Bourdonnais từ chức ngày 18 tháng 11, Guillaume Isidore de Montbel thay thế. Còn chức bộ trưởng Bộ giáo dục được thay bằng Martial de Guernon-Ranville, bá tước Guernon-Ranville, một người tự do.

Tuy chưa có gì khẳng định, nhưng phái đối lập cho rằng Charles X và Jules de Polignac muốn tái lập nền quân chủ chuyên chế như trước Cách mạng. Trên thực tế, có hai cách giải thích đối lập về Pháp điểm năm 1814. Một mặt, Charles X muốn tuân theo pháp điểm một cách chặt chẽ: nhà vua chỉ định các bộ trưởng và chỉ thải hồi trong hai trường hợp phản bội hoặc nhận hối lộ. Mặt khác, những người tự do muốn xây dựng một chế độ giống nước Anh, cho rằng pháp điểm không thể dự kiến hết các trường hợp, bộ trưởng phải được tín nhiệm bởi đa số Nghị viện. Cuộc tranh luận này còn tiếp tục dưới nền Quân chủ tháng Bảy.

Thư thỉnh nguyện 221[sửa | sửa mã nguồn]

Louis-François Bertin, chủ bút tờ Journal des débats. Họa phẩm của Dominique Ingres, hiện trưng bày tại Louvre

Đầu năm 1830, tình trạng nước Pháp trở nên xấu. Mùa đông 1829–1830 khắc nghiệt, nền kinh tế trì trệ, nhiều nhóm bí mật xuất hiện ở nông thôn, các đám cháy không biết nguyên nhân... Hai phe bảo hoàng cực đoan và tự do đổ trách nhiệm lẫn nhau.

Adolphe Thiers, Armand Carrel, François-Auguste MignetAuguste Sautelet lập nên tờ báo đối lập Le National với số đầu tiên ra ngày 3 tháng 1 năm 1830. Nhật báo bênh vực cho một nền quân chủ nghị viện, gợi lại Cách mạng Anh năm 1688: James II vì không hiểu được ý nguyện của nhân dân đã bị thay thế bởi con gái là Mary II và người chồng là William III. Một số tờ báo khác như Le GlobeLe Temps tiếp tục tấn công, chống lại nhà vua và chính phủ. Le ConstitutionnelJournal des débats cũng nghiêng về các tư tưởng tự do.

Ngày 2 tháng 3 năm 1830, khi Nghị viện bước vào kỳ họp mới, Charles X có một bài phát biểu thông báo cuộc viễn chinh tới Alger cùng việc ngầm đe dọa phái đối lập trong chính phủ.[2] Nghị viện sau khi cân nhắc đưa lên nhà vua một danh sách năm người cho chức vụ chủ tịch: Royer-Collard, Casimir Perier, Delalot, Agier, Sébastiani và cuối cùng Royer-Collard trở thành người được bổ nhiệm. Sau đó, các nghị sĩ bắt đầu tranh luận dự thảo một bức thư thỉnh nguyện trả lời bài diễn văn của nhà vua, nhắc lại bản chất của Pháp điểm 1814. Bức thư thực sự là một bản kiến nghị chống lại nội các chính phủ. Trong cuộc biểu quyết ngày 16 tháng 3, 221 người đồng ý và 181 chống lại việc soạn thảo này.[3]

Ngày 18 tháng 3, bức thư được gửi đến cung điện Tuileries. Charles X nói: “Giải tán [Nghị viện] là điều không thể tránh khỏi”. Ngày hôm sau, một chiếu dụ được đưa ra, hoãn kỳ họp ngày 1 tháng 9 của Nghị viện, các nghị sĩ được nghỉ 6 tháng.[4] Vào thời điểm đó, nhà vua xác định đi tới cùng: “Ta muốn trèo lên ngựa hơn là ngồi sau xe kéo”.[5]

Căng thẳng leo thang[sửa | sửa mã nguồn]

Quyết định của Charles X làm tình hình trở nên sôi sục. Những tiếng đồn lan đi. Dư luận cáo buộc rằng nhà vua và các bộ trưởng thân cận chuẩn bị thay đổi hiến pháp. Các ý kiến khác khẳng định Jules de Polignac, vốn là cựu đại sứ và là bạn của Thủ tướng Anh Arthur Wellesley, đã chuẩn bị sẵn, trong trường hợp tình hình nước Pháp xấu đi sẽ nhờ đến sự can thiệp của Anh.

Tại Palais-Royal, Jean Vatout, người thận cận của Công tước Orléans Louis-Philippe, khuyên chủ nhân của mình khai thác địa vị sẵn có. Nhiều người khác, như Thiers, Tướng Gérard, Talleyrand... cũng thuyết phục rằng những người dòng Bourbon nhánh trưởng đã hết thời, nhưng Louis-Philippe vẫn chần chừ. Tháng 5, tại Paris, Louis-Philippe đón đón tiếp anh vợ là Francesco I cùng người vợ là María Isabel. Để chào mừng vị quân vương đến từ thành Napoli, ngày 31 tháng 5, một buổi tiệc xa hoa được tổ chức tại Palais-Royal và Charles X cũng tới dự. Khi nhà vua đã đi khỏi, dân chúng tràn vào khu vườn, Louis-Philippe nhiều lần ra ngoài ban công để xoa dịu đám đông chống đối Charles X và Jules de Polignac. Cuộc biểu tình trở nên dữ dội hơn. Các ghế gỗ được chất đống và đốt trong vườn, tiếng la ó bên cạnh tiếng nhạc. Bá tước Narcisse-Achille de Salvandy, người chịu trách nhiệm tổ chức buổi tiệc, nói với Louis-Philippe một câu về sau được nhắc đi nhắc lại ở Paris: “Vậy đấy, thưa ngài, một lễ hội rất Napoli, chúng ta khiêu vũ trên miệng núi lửa!”.[6]

Ngày 16 tháng 5 năm 1830, thời điểm đoàn quân viễn chinh của Pháp chuẩn bị xuất phát tới Alger, Charles X giải tán Nghị viện, cho triệu tập đại cử tri đoàn các quận vào ngày 23 tháng 6 và các tỉnh vào ngày 3 tháng 7. Quyết định của nhà vua trực tiếp khiến nội các chính phủ rối loạn: Jean de Courvoisier và Christophe de Chabrol de Crouzol từ chức, Jean de Chantelauze được chỉ định làm bộ trưởng Bộ Tư pháp, Guillaume Isidore de Montbel sang Bộ Tài chính, còn bộ trưởng Bộ Nội vụ được thay thế bằng bá tước Peyronnet, một người bảo hoàng cực đoan. Nam tước Guillaume Capelle, một tỉnh trưởng, được đưa lên làm quản lý ở Bộ Lao động và có vị trí trong tổ chức chính phủ.

Ngày 13 tháng 6, trên tờ Le Moniteur, Charles X cáo buộc các nghị sĩ đã không tự đánh giá đúng mục đích của họ và kêu gọi cử tri “không để bị lạc lối vì miệng lưỡi gian xảo của kẻ địch”, “đẩy lùi những ngờ vực không đáng có làm mất lòng tin của quần chúng và có thể gây rối loạn”. Charles X kết thúc: “Nhà vua kêu gọi, đó là một người cha kêu gọi. Hãy thực hiện nghĩa vụ của mình, Trẫm có nghĩa vụ của Trẫm.”. Nhưng hành động mạo hiểm đã khiến Charles X nhận hậu quả. Sau cuộc bầu cử, số nghị sĩ đối lập tăng từ 221 lên 270.[7]

Ngòi nổ: Chiếu dụ Saint-Cloud[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 7, tin tức chiến thắng từ Alger về tới Paris. Thắng lợi quân sự này đem lại hào quang cho nền quân chủ và củng cố ý định của Charles X. Từ ngày 10 tháng 7, nhà vua cùng các bộ trưởng thân cận bí mật chuẩn bị cho chiếu dụ. Cảnh sát trưởng Paris và quân đội cũng không được biết nên đã không chuẩn bị gì cho việc giữ trật tự ở thủ đô.[8] Phái tự do đối lập nghi ngờ sẽ xảy ra những thay đổi bạo lực, e ngại một cuộc khởi nghĩa nhân dân. Bởi phần lớn họ, các nghị sĩ tự do đều xuất phát từ giới quý tộc hoặc tư sản. Ngày 10, khoảng 40 nghị sĩ và công khanh họp tại nhà công tước Victor de Broglie, quyết định trong trường hợp xảy ra bạo loạn sẽ từ chối bỏ phiếu cho ngân sách nhà nước.

Louis-Philippe, khi đó đang nghỉ hè ở lâu đài Neuilly cùng gia đình, vẫn chưa tỏ ra chút quan tâm nào. Ngày 21 tháng 7, hầu tước Charles-Louis Huguet de Sémonville tới thăm Louis-Philippe:

— Vương miện ư? Không bao giờ, Sémonville, nếu nó không đến với ta một cách hiển nhiên!
— Sẽ là hiển nhiên, thưa ngài, nó nằm dưới đất, nước Pháp nhặt lên và bắt ngài phải đội.[9]

Ngày 25 tháng 7, lúc 11 giờ tối, chiếu dụ được giao tới người biên tập của tờ Le Moniteur để in trong đêm và phát hành vào ngày hôm sau:

  • Sắc lệnh thứ nhất: đình chỉ quyền tự do báo chí, tất cả các xuất bản định kỳ phải được sự cho phép của chính phủ.
  • Sắc lệnh thứ hai: giải tán Nghị viện mới được bầu.
  • Sắc lệnh thứ ba: thay đổi thể thức bầu cử, giảm số nghị sĩ từ 428 xuống 258...
  • Sắc lệnh thứ tư: triệu tập đại cử tri vào tháng 9.
  • Sắc lệnh thứ năm và sáu: chỉ định Hội đồng Nhà nước.

Những ngày tháng 7[sửa | sửa mã nguồn]

Các địa điểm quan trọng của Cách mạng tháng Bảy trên bản đồ Paris ngày nay
Bản đồ Paris hiện nay
 
Neuilly
 
 

 
 

 
 

 
 

 
 

 
 

 
 

 
 

 
 

 
 

 

   Tòa thị chính

   Louvre

   Tuileries

   Palais-Royal

   Luxembourg

   Étoile

   Champs-Élysées

   Concorde

   Vendôme

   Palais Bourbon

Tuileries: Cung điện hoàng gia •
Palais Bourbon: Trụ sở Nghị viện •
Luxembourg: Viện công khanh •

Ngày 26: Những chống đối đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ hai, ngày 26 tháng 7, tin tức của chiếu dụ lan đi khắp nước Pháp gây nên một trạng thái sửng sốt. Mặc dù nhiều người đã dự đoán về sự thay đổi, nhưng không ai tưởng tượng được rằng nhà vua lại hành động trước kỳ họp của hai viện dự kiến ngày 3 tháng 8.

Từ đầu buổi chiều, các chủ của tờ Le Constitutionnel tổ chức một buổi họp ở nhà luật sư André Dupin, một nghị sĩ phái tự do và là người thân cận với Louis-Philippe. Cùng tham gia còn có một số nhà báo như Charles de Rémusat, Pierre Leroux của tờ Le Globe, một số luật sư khác như Odilon Barrot, Joseph Mérilhou. Trong buổi họp, André Dupin giải thích rằng các chiếu dụ của nhà vua trái với Pháp điểm, tức bất hợp pháp. Sau đó Rémusat và Leroux trở lại tòa soạn tờ Le National, nơi các nhà báo đang nhóm họp cùng Thiers, Mignet và Carrel. Tờ báo phát hành một số đặc biệt kêu gọi chống đối bằng việc ngừng nộp thuế. Thiers và Rémusat đề xuất một bản kháng nghị và được soạn thảo ngay lập tức với chữ ký của 44 nhà báo, sẽ đăng ngày hôm sau trên các tờ Le National, Le GlobeLe Temps:

Chế độ hợp pháp đã bị [...] gián đoạn, bạo lực bắt đầu. Trong tình thế của chúng ta hiện tại, sự phục tùng không còn là nghĩa vụ. [...] Ngày hôm nay, các bộ trưởng tội lỗi đã vi phạm pháp chế. Chúng ta không còn phải tuân theo. Chúng tôi thử phát hành tờ báo này mà không xin phép như quy định ép buộc.[10]

Cũng thời gian đó, các nghị sĩ tự do có mặt ở Paris và tổ chức lại, mặc dù còn khá dè dặt vì sợ hãi phản ứng của chính phủ. Alexandre de LabordeLouis Bérard là những người hăng hái hơn cả. Buổi họp đầu tiên tại nhà Casimir Perier vào chiều ngày 26 với sự tham gia của Bérard, Laborde, Bertin de Vaux, Saint-Aignan, SébastianiTaillepied de Bondy. Bérard đề xuất một bản kháng nghị chung, nhưng các đồng nghiệp khác từ chối. Thất vọng, Bérard bỏ đi cùng với Laborde tới văn phòng tờ Le National để nhập vào nhóm của Thiers. Buổi tối, khoảng 15 nghị sĩ tập trung tại nhà Laborde, trong đó có Bavoux, Bérard, Lefebvre, Mauguin, Perier, Persil, Schonen. Bérard lại đề nghị về bản kháng nghị nhưng các nghị sĩ khác vẫn tránh né với lý do họ chưa đủ đông. Mọi người tự hạn định sẽ đưa ra quyết định vào 15 giờ ngày hôm sau tại phòng khách nhà Casimir Perier, người không muốn nhưng cũng không dám từ chối.[11]

Cũng buổi tối 26, một vài đám người bắt đầu tụ tập trước Palais-Royal, ở quảng trường Carrousel, quảng trường Vendôme với thúc đẩy của Hiệp hội Tháng Một. Đám đông thét lớn: “Pháp điểm muôn năm! Đả đảo các bộ trưởng! Đả đảo Polignac!”. Một vài người biểu tình nhận ra xe của Polignac, khi đó đang đi cùng nam tước Haussez, tới trụ sở Bộ Ngoại giao trên phố Neuve-des-Capucines. Các viên đá ném về hướng xe khiến cửa kính vỡ toang, những mảnh vỡ cào xước người Haussez. Người đánh xe cho ngựa chạy nước đại vào trong sân của Bộ Ngoại giao và đội hiến binh đóng vội cổng. Paris sau đó trở lại yên ắng.

Ba ngày vinh quang[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27: Từ nổi loạn tới khởi nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tịch thu báo chí, ngày 27. Victor Adam, Thư viện quốc gia Pháp

Ngày 27 tháng 7, bất chấp lệnh cấm, các tờ Le National, Le Temps, Le GlobeLe Journal du commerce đồng loạt đăng tải bản kháng nghị của các nhà báo. Ngay lập tức, Claude Mangin, cảnh sát trưởng, ra lệnh tịch thu những số phát hành của cả bốn tờ. Các cuộc ẩu đả xảy ra giữa cảnh sát và thợ in, những người lo sợ mất việc làm, trở thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa.

Thành phần xã hội của những người nổi dậy đã là đề tài cho nhiều cuộc tranh luận của những nhà sử học. Với các sử gia chủ nghĩa xã hội hay cộng sản, theo hướng Ernest Labrousse, những người nổi dậy là nạn nhân của khủng hoảng kinh tế. Một số khác, như nhà sử học người Mỹ David H. Pinkney, cho rằng đây là những thợ thủ công, người buôn bán nhỏ, làm thuê... Họ là một phần của lực lượng Vệ quốc đoàn từ thời Cách mạng Pháp đã bị giải tán vào năm 1827 nhưng vẫn giữ lại vũ khí của mình.[12] Với Jean Tulard, dựa trên tư liệu lưu trữ của sở cảnh sát, lực lượng nổi dậy là “những công nhân làm việc theo mùa vụ, không có truyền thống cách mạng [...] tụ tập dưới sự lôi kéo của sinh viên và những người cầm đầu về chính trị”.[13] Còn những người cầm đầu, gồm các phần tử cộng hòa và những người trung thành với Napoléon Bonaparte, đã chuẩn bị từ ít nhất một năm trước đó. Những người cộng hòa chỉ gồm một nhóm nhỏ nhưng tích cực và cương quyết: Godefroy Cavaignac, Joseph Guinard, Armand Marrast, Louis-Adolphe Morhéry, François-Vincent Raspail, Ulysse Trélat, Ferdinand Flocon, Auguste Blanqui... Còn những người theo chủ nghĩa Bonaparte, chủ yếu gồm các binh sỹ cũ của Đệ nhất đế chế, có số lượng đông hơn. Họ thường kín đáo tập hợp thành các tổ chức dưới sự bảo hộ của đảng Carbonari.

Vào lúc 3 giờ chiều, khoảng 30 nghị sĩ tự do họp tại nhà Casimir Perier dưới sự lãnh đạo của thành viên kỳ cựu Labbey de Pompières, một người cực tả. Phần lớn mọi người đều lo lắng, tự vấn về quyền tụ họp của mình. Bérard, nhận thấy Casimir Perier một vẻ gò bó và khó chịu rõ rệt,[14] tiếp tục đề xuất soạn thảo bản kháng nghị. Abel-François Villemain gợi ý một bức thư đơn giản cho Charles X, còn theo André Dupin, nên kháng nghị nhưng mang tính cá nhân. Sau khi lần khần tránh né, chỉ François Guizot tự nhận chuẩn bị một phương án và sẽ đệ trình vào ngày hôm sau. Khoảng 5 giờ chiều, các nghị sĩ lại giải tán mà chưa có một giải pháp nào cụ thể.

Trong khi đó, những nhóm nổi dậy đầu tiên đã xung đột với cảnh sát và cảnh binh ở khu vực Palais-Royal. Chướng ngại vật bắt đầu được sinh viên và công nhân thuộc Hiệp hội Tháng Một dựng lên. Đám đông thêm phẫn nộ bởi thông báo bổ nhiệm Thống chế Marmont về sư đoàn 1, tức Paris. Giống như Bourmont, trong mắt người dân, Marmont là hình mẫu đại diện cho sự phản trắc, từng dẫn 20 ngàn quân của mình về Essonne trong khi Paris bị tấn công vào năm 1814. Được những người cầm đầu thúc đẩy, đám đông tấn công quân đội bằng gạch đá, các chậu hoa... Cuối cùng, vào đầu buổi tối, quân đội bắt đầu nổ súng. Cuộc cách mạng tháng Bảy năm 1830 thực sự bắt đầu vào chính thời điểm này.

Ngày 28: Cách mạng nhân dân[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ thần Tự do dẫn dắt nhân dân, họa phẩm nổi tiếng của Eugène Delacroix minh họa ngày 28. Bảo tàng Louvre
Trận chiến trước tòa thị chính ngày 28 tháng 7, Jean-Victor Schnetz. Petit Palais

Buổi sáng 28 tháng 7, trung tâm và phía Đông Paris tràn ngập chướng ngại vật. 10 ngàn người nổi dậy vừa cướp phá các xưởng vũ khí vừa hát bài La Marseillaise. Lúc 11 giờ, các bộ trưởng cùng Polignac tới cung điện Tuileries tìm sự bảo vệ của Marmont. Thống chế Marmont nhận thấy tình hình thực sự nghiêm trọng, gửi cho Charles X, khi đó đang ở lâu đài Saint-Cloud, một tin báo nổi tiếng:

Không còn là một vụ nổi loạn nữa, đây là một cuộc cách mạng. Hoàng thượng cần khẩn cấp quyết định phương án trấn áp. Ngai vàng vẫn còn có thể giữ được. Nhưng ngày mai có thể sẽ không còn thời gian.[15]

Bức thư lập lại câu nói nổi tiếng của Công tước Liancourt dành cho Louis XVI thời kỳ Cách mạng Pháp.[16] Charles X đã không trả lời, nhưng vào buổi tối, Polignac báo cho Marmont biết nhà vua vừa ký một chiếu dụ đặt Paris vào tình trạng bị bao vây, Marmont nhận được mọi quyền lực để đè nát cuộc cách mạng. Nhưng khi đó Thống chế Marmont chỉ có 10 ngàn quân. Thủ đô dường như bị bỏ ngỏ bởi quân đội đã được gửi đi cho cuộc viễn chinh Alger, tới Normandie để giải quyết các đám cháy hàng loạt cố ý, và tới biên giới phía Bắc để đề phòng phía Bỉ.

Trong ngày 28, các nhóm lính, với sự tiếp tế kém cỏi về cả đạn dược và lương thực, như mắc bẫy trên những con phố nhỏ hẹp của Paris, đầy chướng ngại vật và dưới cơn mưa gạch đá... Cuối buổi sáng, những người nổi dậy chiếm được Tòa thị chính thành phố và kéo lên lá cờ ba màu. Sau nhiều lần mất rồi lại lấy lại trong ngày, công trình mang tính biểu tượng vẫn thuộc về tay những người cách mạng. Charles-Maurice de Talleyrand-Périgord khi đó đang ở trong dinh thự Saint-Florentin trên quảng trường Concorde. Vào lúc 5 giờ chiều, người thư ký nói với Talleyrand rằng những hồi chuông mà họ nghe thấy từ xa báo hiệu phái nổi dậy đã làm chủ Tòa thị chính. Talleyrand nói:

— Chỉ vài phút nữa, Charles X sẽ không còn là vua nước Pháp.[17]

Cũng ngày hôm đó, các nghị sĩ phái tự do vẫn tiếp tục gắng tìm một giải pháp thỏa hiệp. Tướng Étienne Maurice Gérard, nghị sĩ của tỉnh Oise, kín đáo gửi bác sĩ Thiébaut tới nam tước Vitrolles để làm một cuộc vận động nhà vua rút lại chiếu dụ. Vitrolles đến lâu đài Saint-Cloud vào buổi chiều và gặp Charles X trong hai tiếng nhưng nhà vua từ chối mọi nhượng bộ. Lúc giữa trưa, các nghị sĩ tập hợp tại nhà Pierre-François Audry de Puyraveau. Lần đầu tiên Jacques LaffitteLa Fayette, vừa mới trở lại Paris, có mặt. Một ban 5 người được chỉ định, gồm Laffitte, Delessert, Perier, các tướng GérardMouton, nhận trách nhiệm tới thương thuyết với Marmont để ngừng chiến.

Khoảng 2 giờ rưỡi chiều, Thống chế Marmont tiếp phái đoàn nghị sĩ tại cung điện Tuileries. Marmont viện các lệnh nhận được, đòi hỏi kết thúc cuộc khởi nghĩa trước khi ngừng bắn. Thế nhưng các nghị sĩ lại đòi hỏi rút lại chiếu dụ và thải hồi các bộ trưởng là điều kiện để ngừng cuộc nổi dậy. Khoảng 3 giờ chiều, phái đoàn nghị sĩ rời Tuileries. Marmont gửi một bức điện báo cáo Charles X và nhận được trả lời vào cuối buổi chiều: Giữ vững và tập trung quân đội ở giữa LouvreChamps-Élysées.[18]

Cũng thời điểm đó, các nghị sĩ lại tiếp tục họp, nhưng lần này tại nhà Louis Bérard. Họ từ chối trực tiếp ký vào bản kháng nghị do Guizot soạn mà muốn công bố một bản in. Chính phủ đưa ra quyết định bắt giữ La Fayette, Gérard, Mauguin, Audry de Puyraveau, Salverte và André Marchais. Thiers bỏ đi chốn ở gần Pontoise, trong khi đó Rémusat trú tại nhà công tước Broglie.

Jacques Laffitte, vừa trở về từ Breteuil, là người đầu tiên cổ vũ cho Louis-Philippe. Tại Palais-Royal, Laffitte tiếp xúc với người thư ký là Oudard, gửi cho Louis-Philippe, lúc đó đang ở Neuilly, một tin nhắn nhận hợp tác cùng. Trong đêm 27 sang 28, một tiểu đoàn cận vệ hoàng gia đóng trại tại vùng ngoại ô Saint-Honoré nhận được lệnh bao vây lâu đài Neuilly nhằm ngăn chặn sự hợp tác có thể giữa Louis-Philippe và phe nổi loạn. Đêm hôm đó, Louis-Philippe phải ngủ trong nhà nuôi tằm ở gần lâu đài Villiers.[19]

Ngày 29: Chiến thắng của phe khởi nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tấn công Louvre, ngày 29, tác giả vô danh. Bảo tàng Carnavalet
Chiến đấu trên phố Rohan, ngày 29, Hippolyte Lecomte. Bảo tàng Carnavalet

Trong đêm 28 sang ngày 29, các chướng ngại vật mới được tiếp tục được dựng lên. Thứ năm ngày 29, Marmont phải dàn quân ở khu vực giữa LouvreÉtoile. Buổi sáng, những người nổi dậy chiếm được quảng trường Vendôme từ tay trung đoàn 5 và 53. Điều này khiến ý đồ quân sự của Marmont bị sụp đổ. Tránh bị chia cắt, quân đội phải bỏ Louvre và Tuileries rút về Champs-Élysées và Étoile. Trong buổi tối, phe khởi nghĩa đã làm chủ Paris còn tàn quân hoàng gia rút về rừng Boulogne để bảo vệ lâu đài Saint-Cloud.

Buổi sáng, hai công khanh, hầu tước Sémonville và bá tước Argout tới Tuileries để đề nghị Polignac từ chức và rút lại chiếu dụ. Kết thúc buổi gặp gỡ thất bại, hai công khanh và Polignac đều tới Saint-Cloud, tuy không đi cùng nhau nhưng đến cùng lúc, đối lập trước Charles X trong khi nhận được những tin thất bại của Marmont. Cũng buổi sáng, nam tước Vitrolles nhận được qua bác sĩ Thiébaut tin của tướng Gérard: Dù nhà vua không rút lại chiếu dụ, nhưng phải thải hồi Polignac, công tước Mortemart sẽ nhận nhiệm vụ thành lập một nội các mới trong đó có Gérard và Perier. Charles X đồng ý các điều kiện đó và Sémonville, Argout cùng Vitrolles quay về Paris để báo tin.

Trong buổi sáng, các nghị sĩ và nhà báo họp tại nhà Laffitte. Laffitte gửi Oudard tới Neuilly để nói cho Louis-Philippe tình hình rất khấn cấp, Louis-Philippe cần sử dụng vị trí của mình. La Fayette tuyên bố đồng ý vị trí chỉ huy Vệ quốc đoàn, lực lượng giải tán vào năm 1827 vừa hình thành trở lại. Ngược với ý kiến của những người cộng hòa muốn thành lập một chính phủ lâm thời, Guizot, Bertin de Vaux và Méchin đề nghị một ban chịu tránh nhiệm quản lý thành phố. Đề xuất này được chấp nhận, ủy ban thành lập với các thành viên Casimir Perier, Mouton de Lobau, Audry de Puyraveau, Mauguin và Auguste de Schonen. Buổi chiều, La Fayette và ủy ban tới Tòa thị chính.

Cuối buổi chiều, Sémonville, Argout và Vitrolles từ Saint-Cloud quay về Paris. Sau khi mất rất nhiều thời gian vượt qua các chướng ngại vật trên đường phố, ba người tới Tòa thị chính lúc 8 giờ tối. Ủy ban và La Fayette đòi hỏi về bằng chứng chính thức xác nhận việc thải hồi Polignac nhưng Sémonville, Argout và Vitrolles không thể đưa ra. Nản chí, Sémonville bỏ về ngủ ở cung điện Luxembourg còn Argout về nhà Laffitte, nơi các nghị sĩ đang họp và đã đưa ra ý định: Charles X vẫn giữ ngai vàng, công tước Mortemart trở thành thủ tướng. Lúc 10 giờ tối, Argout lại tới Saint-Cloud để tìm công tước Mortemart. Các nghị sĩ đồng ý sẽ chờ cho tới 1 giờ sáng. 1 giờ rưỡi, Argout vẫn chưa quay trở lại, cuộc họp giải tán.

Những người nổi dậy vẫn làm chủ thành phố. Thời điểm để thỏa ước đã qua và như vậy ngai vàng của Charles X bị tuyên án.

Ngày 30: Quyết định chọn Louis-Philippe[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30, các nghị sĩ và nhà báo lâm vào cảnh phải kìm hãm bớt cách mạng nhân dân để giữ vững lợi ích cho tầng lớp tư sản. Tại nhà mình, Laffitte tiếp ba biên tập viên của tờ Le National: Thiers, MignetCarrel. Laffitte tỏ ra không lo ngại nguy cơ từ những người chủ nghĩa Bonaparte. Napoléon II đang ở Áo, phần lớn quan chức của Đệ nhất đế chế đã theo nền quân chủ. Nhưng Laffitte sợ rằng với sự vận động của công tước Mortemart, các nghị sĩ sẽ đồng ý cho cháu trai của Charles X, khi đó mới 10 tuổi, lên ngai vàng, trở thành Henri V. Bốn người thỏa thuận phải giải quyết nhanh chóng và công bố luôn, không cần đợi Louis-Philippe. Thiers cùng Mignet soạn thảo một bản thông báo để in ngay trong xưởng in của tờ Le National và sẽ dán khắp thành phố để dân chúng Paris đọc được vào sáng ngày hôm sau:

Charles X không thể quay lại Paris: ông ta đã làm nhân dân phải đổ máu.
Nền cộng hòa sẽ khiến chúng ta bị phân hóa: nó sẽ gây bất hòa với châu Âu.
Công tước Orléans là một vị hoàng thân tận tụy với Cách mạng.
Công tước Orléans không bao giờ chống lại chúng ta. [...]
Công tước Orléans đã tuyên bố; ngài đồng ý với Pháp điểm mà chúng ta luôn mong đợi.
Vì nhân dân Pháp, ngài sẽ nhận lấy vương miện.[20]

Với quyết định này, bốn người còn phải cần sự ủng hộ của Mortemart và trên hết là La Fayette, người cầm đầu của phái cộng hòa. Bên cạnh đó cũng phải thuyết phục Louis-Philippe, đến lúc này vẫn chưa để lộ ý định gì. Charles de Rémusat, người lấy cháu gái của La Fayette, nhận nhiệm vụ tới thăm dò ý kiến La Fayette tại Tòa thị chính vào buổi sáng hôm đó. Charles de Rémusat đưa ra lựa chọn giữa Louis-Philippe và nền cộng hòa rồi hỏi trong trường hợp cộng hòa, La Fayette có đồng ý làm người lãnh đạo không. La Fayette, khi đó đã 73 tuổi, trả lời: “Công tước Orléans sẽ làm vua.”.[21] Còn Mortemart cũng về đến Paris vào buổi sáng hôm đó cùng với bá tước Argout. Mortemart dự định tới nhà Laffitte rồi đến Tòa thị chính, nhưng trên đường đi gặp Bérard và cha vợ là tướng Mathieu Dumas. Bérard cho biết các nghị sĩ đang họp và sẽ tới Palais Bourbon vào buổi trưa để đề nghị Louis-Philippe làm quan phụ chính. Mortemart đưa ra các chiếu dụ, nhưng Bérard trả lời:

— Charles X không còn là vua nữa. [...] Đã quá muộn, thời điểm để thỏa hiệp đã qua, ông ta sẽ không bao giờ trở lại.[22]

Thất vọng, Mortemart không tới Tòa thị chính mà quay về cung điện Luxembourg, nơi Sémonville họp cùng một vài công khanh khác. Một trong số đó, bá tước Sussy, đề nghị vẫn tới Tòa thị chính thông báo chiếu dụ. Nhưng khi đọc chiếu dụ tại Tòa thị chính, Sussy đã phải chạy trốn trước sự nổi giận của đám đông. Tại Palais Bourbon, các nghị sĩ cũng từ chối nhận chiếu dụ vì cùng đồng ý Charles X không còn là vua và lập ra một ban 5 người để tới điều đình với Viện công khanh: Augustin Perier, Horace Sébastiani, François Guizot, Benjamin Delessert và Jean-Guillaume Hyde de Neuville. Ở cung điện Luxembourg, 5 nghị sĩ chỉ ra cho Mortemart rằng Charles X không còn trị vì và sự lựa chọn chỉ còn Louis-Philippe hoặc nền cộng hòa. Cuối cùng phần lớn các công khanh cũng đồng ý rằng Louis-Philippe là phương án tốt hơn cả. Sébastiani tới Palais Bourbon để báo lại tin này cho các nghị sĩ.

Louis-Philippe về tới Palais-Royal đêm 30. Jean-Baptiste Carbillet, bảo tàng lâu đài Versailles

Vào buổi sáng ngày 30, trong khi các nghị sĩ và công khanh tranh luận, vẫn chưa có gì chứng minh Charles X đã bị đẩy ra ngoài cuộc. Nhà vua vẫn còn ở Saint-Cloud và vừa lập nên một chính phủ mới, có thể thoái vị nhường ngôi cho người cháu, tức công tước của Bordeaux. Còn Louis-Philippe vẫn thận trọng, đã rời Neuilly tới lâu đài Raincy, địa điểm cách xa Saint-Cloud hơn.

Giữa trưa, các nghị sĩ họp ở Palais Bourbon. Chỉ một mình Hyde de Neuville còn bênh vực cho Charles X, một nhóm nhỏ gợi đến nền cộng hòa, còn lại phần lớn ủng hộ Louis-Philippe. Thế nhưng nếu chọn Louis-Philippe vẫn còn hai phương án: hoặc Louis-Philippe trở thành quan phụ chính, hoặc Louis-Philippe nối tiếp ngai vàng. Cuối cùng, vào đầu buổi chiều, các nghị sĩ đồng ý với phương án đầu tiên.

Từ buổi sáng, các nghị sĩ đã quyết định để Henri de Rigny cùng Jean Vatout đến thăm dò Louis-Philippe tại lâu đài Neuilly. Thiers cùng với họa sĩ Ary Scheffer, một người thân của gia đình Louis-Philippe, cũng tới lâu đài Neuilly. Đến trước, nhưng Thiers không gặp Louis-Philippe mà chỉ có Maria AmaliaAdélaïde, vợ và em gái của Louis-Philippe. Maria Amalia nói “[Louis-Philippe] không bao giờ chấp nhận khi nhà vua [Charles X] còn đang ở Saint-Cloud”.[23] Thiers thuyết phục rằng Louis-Philippe là giải pháp tốt nhất, không thay đổi triều đại, cứu nước Pháp khỏi chủ nghĩa vô chính phủ... Cuối cùng, Adélaïde quyết định: “Nếu ngài tin rằng sự tán thành của gia đình chúng tôi có thể đem lại lợi ích cho cách mạng, chúng tôi sẽ vui lòng giúp ngài! [...] Tôi sẽ tới Paris và hứa nhân danh anh trai, trên quảng trường Palais-Royal, giữa nhân dân.”.[24]

Henri de Rigny và Jean Vatout tới sau cũng không gặp Louis-Philippe. Trong suốt ngày hôm đấy họ ở lại Neuilly. Maria Amalia, mặc dù nói: “Chồng tôi không muốn trở thành kẻ tiếm ngôi”, nhưng đã gửi Oudard, người thư ký, tới Raincy để báo cho Louis-Philippe trở về Neuilly.[25] Một lúc sau, Lasteyrie, con rể của La Fayette, tới báo “cần nhanh chóng bởi rất khó khăn để giữ chân nhân dân”. Maria Amalia gửi tin nhắn thứ hai cho Louis-Philippe. Người đưa tin, sĩ quan Montesquiou, vượt qua quãng đường 20 km giữa Neuilly và Raincy, tới nơi vào giữa buổi chiều. Một nhóm nghị sĩ gồm 12 người cũng tới Neuilly. Đầu buổi tối, Louis-Philippe cùng Montesquiou và Oudard trở về Neuilly nhưng ẩn ở công viên. Khoảng 8 giờ tối, khi vợ và em gái ra gặp, Louis-Philippe quyết định đồng ý với giải pháp của Nghị viện. Sau đó, các nghị sĩ được mời tới, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc, Louis-Philippe chính thức tuyên bố đồng ý.

Khoảng 10 giờ tối, Louis-Philippe mặc áo redingote xám, đội mũ đen, đeo dải băng ba màu cờ, cùng thư ký Oudard và hai sĩ quan Auguste de Berthois, Pierre Agathe Heymes rời Neuilly đi bộ về Palais-Royal. Trên đường đi, Louis-Philippe dừng lại tại dinh thự Saint-Florentin trên quảng trường Concorde để biết chắc được sự ủng hộ của Talleyrand. Về tới Palais-Royal gần nửa đêm, Louis-Philippe cho báo tin tới công tước Mortemart rồi ngủ tại một căn phòng trong căn hộ của Oudard.

Ngày 31: Louis-Philippe nhập cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Louis-Philippe đến Tòa thị chính, ngày 31. Feron Eloi Firmin, bảo tàng lâu đài Versailles

Trong đêm 30 sang ngày 31, sĩ quan Heymes tới nhà Jacques Laffitte, dựng Laffitte khỏi giường vào lúc 1 giờ rưỡi để báo rằng Louis-Philippe sẽ tiếp các nghị sĩ vào 9 giờ tại Palais-Royal. Tiếp đó, Heymes tới cung điện Luxembourg khoảng 2 giờ sáng đánh thức công tước Mortemart, thuyết phục ủng hộ cho Louis-Philippe. Khoảng 3 giờ, hai người trở về Palais-Royal. Berthois dẫn Mortemart tới gặp Louis-Philippe khoảng 4 giờ sáng, khi đó đang ngủ trên một chiếc đệm cũ trong căn phòng nhỏ. Louis-Philippe trở dậy, áo hở ngực, người đầy mồ hôi, chứng tỏ với Mortemart sự trung thành của mình dành cho Charles X:

— Nếu ngài gặp nhà vua trước tôi, nói với nhà vua rằng tôi bị cưỡng ép phải quay về Paris, [...] rằng tôi sẽ tự băm mình ra từng mảnh trước khi để bị đội vương miện lên đầu.[26]

Tiếp đó Louis-Philippe thông báo các nghị sĩ có mặt ở Paris đã chỉ định mình làm quan phụ chính để cản bước nền cộng hòa rồi hỏi về tính hợp pháp của quyết định đó. Mortemart cho biết trong trường hợp này, các nghị sĩ không thể thay mặt cho nhà vua. Cuối cùng, Louis-Philippe giao cho Mortemart một bức thư gửi Charles X trong đó cam kết sự trung thành và nói rõ nếu người ta bắt mình phải nhận quyền lực thì điều đó chỉ “tạm thời và để giữ quyền lợi của gia tộc”.

Buổi sáng, Louis-Philippe được biết tin Charles X đã bỏ Saint-Cloud để về Grand Trianon. Ngay lập tức, Louis-Philippe gọi Mortemart để lấy lại bức thư với lý do cần sửa lại. 9 giờ sáng, sau khi nói chuyện với Méchin, Dupin và Sébastiani, Louis-Philippe tiếp phái đoàn nghị sĩ. Viện cớ còn những mối quan hệ gia đình với Charles X, Louis-Philippe từ chối, không thể tuyên bố nhận chức vụ quan phụ chính ngay. Các nghị sĩ, lo lắng nền cộng hòa có thể được tuyên bố ở Tòa thị chính bất cứ lúc nào, tiếp tục gắng thuyết phục. Cuối cùng, Louis-Philippe cùng Sébastiani và Dupin thảo một bản tuyên bố, với sự đồng ý của các nghị sĩ có mặt khi đó:

Dân chúng Paris! Các nghị sĩ của nước Pháp, hiện đang tập trung ở Paris, đã muốn tôi đến thủ đô để nhận chức vụ quan phụ chính. Tôi không do dự tới đây để chia sẻ mối nguy và đặt mình vào giữa nhân dân anh hùng, với tất cả sức lực để ngăn cuộc nội chiến và tình trạng vô chính phủ. Khi vào thành phố Paris, tôi tự hào mang ba màu cờ vinh quang này. Các viện sẽ họp bàn; họ sẽ nghĩ phương cách để bảo vệ chế độ của luật pháp và quyền lợi của quốc gia. Pháp điểm từ nay sẽ là thực tế.[27]

Tại Tòa thị chính, ủy ban thành phố đã thành lập một chính phủ lâm thời. Cần có sự ủng hộ của La Fayette, khoảng 2 giờ chiều, Louis-Philippe rời Palais-Royal tới Tòa thị chính. Tử tước Chateaubriand, nhà văn nổi tiếng, viết lại trong hồi ký: “Công tước Orléans [...] xuống sân Palais-Royal, trèo lên một con ngựa trắng. [...] Các nghị sĩ hăng hái nhất rống lên: Công tước Orléans muôn năm!”.[28] Nhưng khi đoàn của Louis-Philippe đi dọc sông Seine, vượt qua các chướng ngại vật trên phố để về hướng Tòa thị chính, những tiếng hô chống đối xuất hiện: “Đả đảo nhà Bourbon! Nhà Bourbon đáng chết! Đả đảo Công tước Orléans!”. Tới Tòa thị chính, Louis-Philippe, khi đó mặc bộ quân phục của Vệ quốc đoàn, gắng xoa dịu không khí căng thẳng:

— Thưa các ngài, đây là một cựu vệ quốc quân tới thăm vị tướng cũ của mình!

Những người chống đối vẫn tiếp tục: “La Fayette muôn năm! Đả đảo nhà Bourbon!”. Louis-Philippe ôm hôn La Fayette, khi đó khập khiễng bước tới:

— A! Đây là hậu quả của vết thương mà ngài bị ở Hoa Kỳ, trong trận Brandywine!
— À! Kỷ niệm! La Fayette trả lời.[29]

Jean-Pons-Guillaume Viennet, nghị sĩ tỉnh Hérault, đọc tuyên bố của nghị viện, được thông qua trước đó với 90 chữ ký, nhận được tán thưởng nhờ lời hứa quyền tự do của công chúng. Louis-Philippe nói: “Tôi xót xa trước những khổ đau và đổ máu của đất nước; là một hoàng thân, tôi hạnh phúc được góp phần cho sự may mắn của dân tộc.”.[30] Để tránh không khí căng thẳng do vẫn còn những phản đối, La Fayette và Louis-Philippe ra ngoài ban công Tòa thị chính cùng ôm hôn dưới lá quốc kỳ. Tử tước Chateaubriand nhận định: Cái “ôm hôn cộng hòa” của La Fayette đã chính thức đặt Louis-Philippe lên ngai vàng.[28]

Louis-Philippe trở về Palais-Royal bằng phố Saint-Honoré, nhận được thái độ nồng nhiệt hơn từ công chúng. Đầu buổi tối, Maria AmaliaAdélaïde, vợ và em gái của Louis-Philippe, đến Palais-Royal: “Chúng tôi thấy chồng tôi cùng ngài Dupin và tướng Sébastiani. Hai phòng khách chứa đủ hạng người. Quốc kỳ khắp nơi, các cửa sổ và tường đã bị thủng lỗ chỗ bởi đạn; mọi người khiêu vũ và hát trên quảng trường. Một không khí ầm ĩ và lộn xộn”.[31]

Tháng 8: Charles X thoái vị, Louis-Philippe I lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 8, La Fayette tới Palais-Royal cùng với ủy ban thành phố lâm thời, trao quyền lực lại cho Louis-Philippe. Một chính phủ mới được thành lập. Để tránh đụng chạm những người cộng hòa, Louis-Philippe chấp nhận hầu hết các đề nghị của ủy ban thành phố. Riêng François Guizot từ Bộ Giáo dục được chuyển sang Bộ Nội vụ, còn Victor de Broglie bị gạt ra, nhưng lại có chân trong Hội đồng chính phủ cùng với Casimir Perier, André Dupin, Jacques Laffitte, Mathieu Louis MoléTướng Sébastiani. Louis-Philippe cũng thay cảnh sát trường Paris và từ ngày 2 đến ngày 5, chỉ định các bộ trưởng Ngoại giao, Giáo dục cùng nhiều chức vụ quan trọng của chính phủ.

Lâu đài Rambouillet ngày nay, 2004

Charles X rời lâu đài Saint-Cloud vào đêm 30 sang ngày 31 rồi trải qua một ngày ở Grand Trianon, cạnh cung điện Versailles. Tiếp đó nhà vua chuyển tới lâu đài Rambouillet vào đêm 31 tháng 7 sang ngày 1 tháng 8. Buổi sáng, Charles X tiếp đại sứ Anh Charles Stuart tới khuyên nhà vua nên công nhận chức vụ quan phụ chính của Louis-Philippe. Charles X cũng gặp đại tá Berthois, người tùy tùng của Louis-Philippe, tới báo La Fayette cùng quân đội sẽ tới vào ngày mai. Mặc dù nhận được những lời khuyên nên chống lại, Charles X đã làm mọi người ngạc nhiên khi quyết định công nhận vị trí mới của Louis-Philippe. Rạng sáng ngày 2, văn tự với chữ ký của Charles X về tới Palais-Royal:

Nhà vua, muốn kết thúc sự lộn xộn vẫn còn ở thủ đô và một phần nước Pháp, đồng ý chỉ định người em họ, Công tước Orléans, giữ chức vụ quan phụ chính. Nhà vua cũng rút lại chiếu dụ ngày 25 tháng 7, tán thành hai viện sẽ họp vào ngày 3 tháng 8 và ngài hy vọng điều đó sẽ đem lại yên bình cho nước Pháp. Nhà vua sẽ đợi ở đây cho đến khi người đưa bản tuyên bố này quay trở lại. Nếu có mưu hại xâm phạm tính mệnh hay sự tự do của nhà vua và gia đình, ngài sẽ kháng cự cho tới chết.[32]

Louis-Philippe gửi lại một bức thư cho Charles X nhưng tránh né về việc chỉ định. Chức vụ quan phụ chính Louis-Philippe đã nhận từ các nghị sĩ và và việc tránh né này ngầm khẳng định sự cai trị của Charles X đã kết thúc. Tướng Girardin trở về Rambouillet mang theo câu trả lời của Louis-Philippe. Nghe theo lời khuyên của Marmont, Charles X thoái vị nhường ngôi cho người cháu. Chiều ngày 2 tháng 8, Charles X gửi một bức thư cá nhân cho Louis-Philippe và tới Palais-Royal lúc 11 giờ đêm:

Em họ ta,

Ta rất phiền muộn về những tổn hại đến nhân dân [...]. Ta quyết định thoái vị, nhường ngôi cho cháu trai ta, công tước Bordeaux. Thái tử, người cũng chia sẻ với ta, đã đồng ý nhường quyền lợi cho cháu trai. Với chức vụ quan phụ chính, em hãy tôn xưng Henri V lên ngôi. Em hãy dùng mọi phương cách để điều hành chính phủ trong thời gian vua còn nhỏ tuổi [...].[33]

Cũng trong ngày 2, bốn ủy viên của Louis-Philippe tới gặp Charles X để thương thuyết về điều kiện cựu hoàng ra đi. Nhưng Charles X chỉ tiếp công tước Coigny và từ chối, muốn ở lại đợi sự đăng ngôi của cháu trai mình. Vào thời điểm đó, Charles vẫn còn 10 ngàn quân trung thành. Ba ủy viên còn lại bỏ về Paris, Odilon Barrot tới gặp Louis-Philippe lúc 4 giờ sáng tại Palais-Royal. Nhận thấy cần phải cưỡng buộc, Louis-Philippe yêu cầu La Fayette tới Rambouillet.

Ngày 3 tháng 8, Louis-Philippe thông báo trước hai viện về việc Charles X và con trai thoái vị. Buổi chiều, một đội quân khoảng 10 tới 20 ngàn, do tướng Pierre Claude Pajol chỉ huy, tiến về Rambouillet. Ba người, Odilon Barrot, Nicolas Joseph Maison và Auguste de Schonen tới báo trước. Khi Charles X hỏi có bao nhiêu quân đang tới, Maison trả lời: 80 ngàn. Ngay lập tức, Charles X cùng tùy tùng rời Rambouillet về hướng Cherbourg. Ngày 16 tháng 8, Charles X mới tới nơi và Louis-Philippe cũng gửi cho cựu hoàng 600 ngàn franc lấy từ ngân khố với sự bảo đảm cá nhân.[34] Không còn là vua, Charles X mang tước hiệu Bá tước Ponthieu, sống lưu vong và mất ngày 6 tháng 11 năm 1836 tại Gorizia, thuộc Đế chế Áo.

Ngày 7 tháng 8, Nghị viện biểu quyết đưa Louis-Philippe lên ngôi, trở thành Vua của người Pháp, không còn xưng là Vua nước Pháp như các vị quân vương nhà Bourbon trước đó. Ngày 9, tại Palais Bourbon, nền Quân chủ tháng Bảy được tuyên bố chính thức thành lập.

Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Bảy[sửa | sửa mã nguồn]

Cách mạng tháng Bảy không chấm dứt nền quân chủ, nhưng đem lại cho nước Pháp một chế độ mới, củng cố địa vị của giới tư sản công nghiệp và tài chính. Dưới nền Quân chủ tháng Bảy, các cuộc bạo loạn vẫn tiếp tục. Vào ba ngày 5, 67 tháng 6 năm 1832, nổi dậy nhân dịp đám tang tướng Jean Maximilien Lamarque khiến 800 người chết.[35] Cuộc nổi dậy Canuts vào các ngày từ 9 tới 15 tháng 4 năm 1834Lyon cũng có tới 600 nạn nhân.[36] Louis-Philippe vẫn là mục tiêu cho nhiều vụ ám sát.

Cách mạng tháng Bảy cũng mở đầu cho một số cuộc nổi dậy khác ở châu Âu ngay trong những năm 1830, 1831. Liên minh thần thánh - được lập năm 1815 bởi các quân vương chiến thắng Napoléon Bonaparte - đã can thiệp, trấn áp vào nhiều vụ nổi dậy ở châu Âu, đặc biệt trong những năm 1820. Nhưng năm 1830, nước Anh đã cộng nhận nền Quân chủ tháng Bảy, kết quả của cách mạng. Các nước khác - Áo, Phổ - cũng quyết định không can thiệt. Điều này trở thành tiền đề cho nhiều cuộc cách mạng, khởi nghĩa sau đó tại Ý, Đức, BỉĐông Âu. Cách mạng tháng Bảy cũng báo trước cho “Mùa xuân của nhân dân” - một loạt các cách mạng ở châu Âu vào năm 1848.

Tại Bỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngày tháng 9 năm 1830, họa phẩm miêu tả Cách mạng Bỉ. Gustave Wappers, Bảo tàng Hoàng gia Mỹ thuật Bỉ
Chiếm Arsenal, Marcin Zaleski. Sự kiện trong cuộc nổi dậy tháng Mười một tại Ba Lan

Tại Bỉ, dưới sự cai trị của người Hà Lan, cách mạng nổ ra ngày 25 tháng 8 năm 1830. Ngày 4 tháng 9, phong trào lan tỏa và nhận được sự ủng hộ của dân Liège. Ngày 20 tháng 9, quân đội tư sản của Bruxelles, gồm những người chủ nghĩa ôn hòa, bị tước vũ khí. Các ngày 23 đến 26 tháng 9, quân đội Hà Lan can thiệp nhưng thất bại. Phe cấp tiến và ôn hòa nhận thấy phải liên kết lại. Ngày 27, những người nổi dậy chặn đứng quân Hà Lan trước cửa Bruxelles rồi đẩy lùi tới tận biên giới cũ của Hà Lan và Áo. Ngày 4 tháng 10, Bỉ tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ lâm thời ở Bruxelles, một nước Bỉ mới theo thể chế quân chủ lập hiến.[37]

Tại Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Đức, cũng năm 1830, không có chính phủ tập trung, các phong trào tự do nổ ra ở Sachsen, Brunswick-Lüneburg, HessenPhổ.

Tại Brunswick, công tước Karl II, người đang trị vì và có mặt ở Paris vào tháng 7 năm 1830, tuyên bố sẽ dìm vào biển máu tất cả các ý định nổi dậy. Karl II nói lời này ngay sau Cách mạng tháng Bảy, nhưng tới tháng 9 đã phải bỏ trốn. Người em trai là Wilhelm VIII đã lên thay. Ở Hannover, các sinh viên thành lập đội tự vệ, bắt quốc vương tuân theo hiến pháp. Phía Nam nước Đức, những người tự do tập trung ở Hambach, bênh vực cho nền Cộng hòa liên bang, kéo lên lá cờ ba màu đen, đỏ, vàng, biểu tượng mới của nước Đức.

Tại Ý[sửa | sửa mã nguồn]

Ý, Ciro Menotti lập nên những hạt nhân cách mạng tại Bologna, Parma, MantovaRomagna với tôn chỉ “Độc lập, đoàn kết và tự do”. Năm 1831, làn sóng cách mạng nổi lên ở vùng trung Ý. Những người Carbonari, vốn có liên hệ với phái tự do ở Pháp, nhận được sự ủng hộ của chính phủ mới của Pháp. Tại Roma, tháng 12 năm 1830, hai con trai của Louis BonaparteNapoléon-LouisLouis-Napoléon có mưu toan nên đã bị trục xuất. Tháng 2 năm 1831, Francesco IV của ModenaMarie-Louise đều phải chạy trốn.

Ngày 26 tháng 2, hội đồng dân biểu các vùng nổi dậy tuyên bố “Liện hiệp tỉnh Ý”. Nhưng Casimir Perier trở thành Thủ tướng Pháp tháng 3 năm 1831 rút lại sự ủng hộ của chính phủ trước đó, để mặc phái tự do Ý đối mặt với sự can thiệp của Áo. Cuộc nổi dậy thất bại những đã dự báo cho cách mạng năm 1848.[38]

Tại Đông Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Ba Lan, Sa hoàng Nikolai I muốn can thiệp tại Pháp và Bỉ trên danh nghĩa Liên minh thần thánh, đã tổng động viên quân đội Ba Lan ngày 18 tháng 11 năm 1830. Chống đối lại, những người chủ nghĩa dân tộc phát động cuộc nổi dậy tháng Mười một vào ngày 29. Quân đội Ba Lan cũng tham gia vào cuộc khởi nghĩa. Sa hoàng dùng quân đội Nga đàn áp, chiến thắng ở trận Ostrołęka rồi chiếm Warszawa. Gần mười ngàn người bị đi đày ở Thụy Sĩ, BỉPháp.

Tưởng niệm Cách mạng tháng Bảy[sửa | sửa mã nguồn]

Trong ba ngày của Cách mạng tháng Bảy, đã có khoảng một ngàn người thiệt mạng, gồm 200 lính hoàng gia và 800 người nổi dậy. Ngay ngày 3 tháng 8 năm 1830, Louis-Philippe dùng tiền cá nhân tặng 1.500 franc cho Rouget de Lisle, tác giả La Marseillaise.[39] Louis-Philippe cũng đồng ý phong thiếu úy cho tất cả các sinh viên Trường Bách khoa Paris và tặng huy chương cho các sinh viên luật và y đã tham gia Cách mạng. Ngày 11 tháng 8, chế độ mới quyết định thưởng cho tất cả những người bị thương và lập một huy chương mới dành cho các binh sĩ của Cách mạng.

Trên quảng trường Bastille, cây cột Tháng Bảy được khánh thành ngày 28 tháng 7 năm 1840 để kỷ niệm Ba ngày vinh quang. Trên thân cột khắc tên các nạn nhân và tấm bảng phía dưới ghi dòng chữ: “Vinh quang tới những công dân Pháp đã chiến đấu để bảo vệ tự do trong ba ngày đáng nhớ 27, 28, 29 tháng 7 năm 1830”.[40]

Thuật ngữ Trois Glorieuses, có nghĩa Ba vinh quang, được dùng để chỉ ba ngày từ 27 tới 29 của Cách mạng tháng Bảy. Nhà kinh tế học Jean Fourastié đã dựa theo, sử dụng thuật ngữ Trente Glorieuses để chỉ 30 năm phát triển kinh tế từ sau Đệ nhị thế chiến cho tới Khủng hoàng dầu lửa vào năm 1973.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Capefigue 1845, tr. 197
  2. ^ Le Bas 1842, tr. 527
  3. ^ Bellagamba, tr. 126
  4. ^ Lamartine 1853, tr. 316
  5. ^ Vaulabelle 1854, tr. 225
  6. ^ Antonetti 2002, tr. 557
  7. ^ Reithmann 2005, tr. 43
  8. ^ Cabanis 1972, tr. 425
  9. ^ Antonetti 2002, tr. 563
  10. ^ Revue des deux mondes 1830, tr. 148
  11. ^ Antonetti 2002, tr. 565
  12. ^ Pinkney 1988
  13. ^ Tulard 1984
  14. ^ Bérard 1834, tr. 71
  15. ^ Vaulabelle 1854, tr. 390
  16. ^ Chaussinand-Nogaret 1988, tr. 102
  17. ^ Lacour-Gayet 1991, tr. 1070
  18. ^ Antonetti 2002, tr. 570
  19. ^ Antonetti 2002, tr. 571
  20. ^ Vaulabelle 1854, tr. 436
  21. ^ Guizot 1859, tr. 12
  22. ^ Antonetti 2002, tr. 578
  23. ^ Antonetti 2002, tr. 580
  24. ^ Antonetti 2002, tr. 581
  25. ^ Antonetti 2002, tr. 582
  26. ^ Antonetti 2002, tr. 584
  27. ^ Revue des deux mondes 1830, tr. 156
  28. ^ a ă Chateaubriand 1951, tr. 437
  29. ^ Thureau-Dangin 2003, tr. 19
  30. ^ Vaulabelle 1854, tr. 490
  31. ^ Antonetti 2002, tr. 593
  32. ^ Nouvion 1857, tr. 340
  33. ^ Lamothe-Langon 1830, tr. 258
  34. ^ Buloz 1850, tr. 119
  35. ^ Dinnat 2001, tr. 113
  36. ^ Rude 1984, tr. 3
  37. ^ Roegiers 2007
  38. ^ Pasquale 2007, tr. 281
  39. ^ Hoefer 1863, tr. 714
  40. ^ Saint-Fargeau 1847, tr. 26

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]