Phong trào Tin Lành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kitô giáo
Cros.svg

Thuật ngữ Phong trào Tin Lành (Evangelicalism) thường được dùng để chỉ một trào lưu thuộc cộng đồng Kháng Cách với các đặc điểm: tập chú vào nỗ lực truyền bá phúc âm, trải nghiệm qui đạo, lời chứng về đức tin cá nhân, và có quan điểm truyền thống về Kinh Thánh.[1]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo ngữ nghĩa, "Tin Lành" ngụ ý bất cứ niềm xác tín nào xưng nhận Chúa Giê-xu là Cứu Chúa. Thuật từ này có nguồn gốc Hi văn evangelion, nghĩa là "phúc âm" hoặc "tin tức tốt lành". Như vậy, tín hữu Tin Lành đồng nghĩa với tín hữu Cơ Đốc, là người đặt niềm tin của mình trên, được thúc đẩy bởi, và sống theo sự dạy dỗ của thông điệp phúc âm được chép trong Tân Ước.

Thuật từ này cũng thể hiện các đặc trưng của niềm xác tín như nhấn mạnh vào thẩm quyền của Kinh Thánh, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu, trải nghiệm qui đạo (được xem là đồng nghĩa với kinh nghiệm được tái sinh trong tâm linh), và tích cực truyền bá phúc âm.[2]

Theo cách dùng ở phương Tây, thuật từ Tin Lành thường được dùng như một từ đồng nghĩa với Kháng Cách (Protestantism), để phân biệt với Công giáo Rôma. Martin Luther gọi hội thánh theo khuynh hướng cải cách là evangelische Kirche (Giáo hội Tin Lành) [3]

Dù vậy, trong lịch sử lâu dài của mình, thuật ngữ này mang một số ý nghĩa khác nhau phụ thuộc vào các biến động trong từng thời điểm:

  • Kể từ thế kỷ 17, bên trong Giáo hội Anh tồn tại hai trào lưu, một trong số đó có khuynh hướng liên kết với cuộc Cải cách, bị gọi cách chế giễu là Thanh giáo, cũng được gọi với một tên khác là Tin Lành.
  • Tại Bắc Mỹ, đặc biệt tại Hoa Kỳ, trong các cuộc Đại Tỉnh thức, thuật ngữ này được dùng để chỉ những người ủng hộ các cuộc phục hưng tôn giáo (revivalism).

Trong lịch sử đương đại, thuật từ Tin Lành khởi nguồn từ Bắc Mỹ trong những năm đầu thế kỷ 20. Nhiều người xem thần học Tin Lành là sự chọn lựa dung hòa giữa một bên là khuynh hướng Tân phái của các giáo hội chính lưu, bên kia là thần học Nền tảng theo đuổi các lập trường truyền thống.[4] Do đó, Phong trào Tin Lành thường được miêu tả là “khuynh hướng chủ đạo trong cộng đồng Kháng Cách tại Mỹ, chọn lập trường trung dung giữa những người nền tảng và các nhóm tự do.”[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối thế kỷ 18, những cuộc phục hưng khởi phát trong vòng các giáo phái khác nhau được gọi chung là Phong trào Tin Lành.

John Wesley được xem là người có ảnh hưởng lớn trong việc hình thành và phát triển phong trào Tin Lành. Khởi phát từ khi Wesley giong ruỗi trên lưng ngựa đi khắp nước Anh để thuyết giáo, phong trào lan truyền sang các khu định cư tại Mỹ, rồi từ đó phát triển đến nhiều nơi trên thế giới, mặc dù Wesley là một mục sư Anh giáo và ông không có ý định tách rời khỏi Anh giáo.

Ngay sau cuộc Cách mạng Mỹ, giáo hội Giám Lý đầu tiên được thành lập năm 1784, sau khi các chức sắc Anh giáo từ chối phong chức cho các mục sư Mỹ. Những nhà lãnh đạo ban đầu gồm có Francis Asbury, người được George Washington gọi là "Giám mục của nước Mỹ", và Thomas Coke, một nhà lãnh đạo trong công cuộc truyền giáo.

Đến thập niên 1820, đức tin Tin Lành lan tỏa trên khắp nước Mỹ và tạo lập ảnh hưởng đáng kể trên tiến trình hình thành các định chế xã hội cho đất nước này. Các khái niệm về truyền bá phúc âm, phục hưng hội thánh, và các nguyên tắc chứng đạo đều mang dấu ấn của các nhà truyền bá phúc âm như Charles G. Finney. Tín hữu Tin Lành cũng đóng góp tích cực cho nỗ lực cải thiện xã hội Mỹ qua các chương trình cải cách như quảng bá tính tiết độ, các giá trị gia đình, phong trào nữ quyền, các hoạt động từ thiện, và phong trào bãi nô.[6]

Đặc điểm của phong trào này là nhấn mạnh vào trải nghiệm qui đạo của mỗi cá nhân, lòng sùng tín và sự chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh. Họ cũng quan tâm đến các vấn đề đạo đức xã hội như sự tiết độ, các giá trị gia đình, và chống chủ trương sở hữu nô lệ. Họ bác bỏ tính hình thức trong thờ phụng và trong thần học, cung cấp cho tín hữu (lay people) và phụ nữ những vai trò quan trọng trong thờ phụng, truyền bá phúc âm, giảng dạy, và lãnh đạo. Họ thường sẵn lòng cộng tác với các giáo phái khác trong công cuộc truyền bá phúc âm.

Những nhân vật quan trọng khác của phong trào Tin Lành là: Jonathan Edwards, nhà thần học và thuyết giảng ngưòi Mỹ; George Whitefield, nhà thuyết giáo Giám Lý người Anh, và Robert Raikes, người khởi xướng lớp học Trường Chúa Nhật đầu tiên với mục đích giúp ngăn ngừa trẻ em trong những khu phố nghèo sa chân vào cuộc sống tội phạm.[2]

Giáo thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh Thánh được xem là thẩm quyền tối hậu và đáng tin cậy trong đức tin và sống đạo. Những giáo thuyết của cuộc Cải cách Kháng Cách như Duy Kinh Thánh (sola scripture) và Duy Đức Tin (sola fide) được xem là trọng tâm (xem Năm Tín lý Duy nhất). Tính lịch sử của các phép mầu, sự trinh thai, sự đóng đinh, sự phục sinh và sự tái lâm của Chúa Giê-xu được khẳng quyết mặc dù còn có đôi chút khác biệt khi giải thích về ngày tận thế.

Các sử gia và các nhà phê bình thường nêu ra bốn đặc điểm của phong trào Tin Lành:

  • Tập chú vào trải nghiệm qui đạo, còn gọi là được cứu rỗi hoặc được tái sinh (Phúc âm Giăng 3: 3, “Nếu một người không được tái sanh, thì không thể thấy Vương quốc của Thiên Chúa”). Do đó, người Tin Lành thường tự nhận mình là tín hữu được tái sinh.
  • Kinh Thánh là cội nguồn của thẩm quyền tôn giáo, là sự mặc khải từ Thiên Chúa.
  • Quan tâm đến việc truyền bá phúc âm, theo quan điểm của họ, là chia sẻ niềm tin của mình cho người khác - bằng nỗ lực truyền giáo hay bằng cá nhân chứng đạo.
  • Tâm điểm đức tin của tín hữu Tin Lành là sự chết của Chúa Cơ Đốc trên thập tự giá để cứu chuộc và tha thứ tội lỗi cho loài người.[7]

Giữa nhiều dị biệt, các tín hữu Tin Lành tìm được sự đồng thuận về bốn xác tín:[8]

  • Kinh Thánh là vô ngộ (không sai lầm).
  • Sự cứu rỗi đến bởi đức tin đặt vào Chúa Giê-xu, không bởi công đức.
  • Chỉ những người đủ hiểu biết (từ bảy tuổi trở lên) mới có thể chấp nhận Chúa Giê-xu và công khai xưng nhận đức tin của mình khi chịu lễ báp têm.
  • Mỗi tín hữu Cơ Đốc đều có bổn phận truyền bá phúc âm.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỷ 19[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều nhóm khác nhau trong phong trào Tin Lành, một số là nhân tố tích cực trong những phong trào như bãi bỏ chế độ nô lệ, cải thiện lao tù, thiết lập trại mồ côi, xây dựng bệnh viện và thành lập các cơ sở giáo dục.[9]

Năm 1846, tám trăm tín hữu Cơ Đốc đến từ mười quốc gia gặp nhau tại Luân Đôn và thành lập Liên minh Tin Lành (Evangelical Alliance). Họ xem đây là "một sự kiện mới trong lịch sử hội thánh, một tổ chức được thành lập nhằm bày tỏ sự hiệp nhất của các cá nhân đang sinh hoạt trong nhiều giáo hội khác nhau". Dù có đôi chút bất đồng về vấn đề nô lệ, tổ chức này là tác nhân tích cực trong việc hình thành nhiều hội đoàn tin lành cấp quốc gia và khu vực.[10]

Ngày 5 tháng 7 năm 1865, một mục sư Giám Lý, William Booth, thành lập Christian Mission tại Luân Đôn, đến năm 1878, tổ chức này trở thành Cứu Thế Quân (Salvation Army), một tổ chức từ thiện mô phỏng hình thức tổ chức của quân đội, với nhiều đề án xã hội đang được thực hiện tại nhiều nước trên thế giới.

Thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Liên hiệp Tin Lành Thế giới (World Evangelical Alliance – WEA) được thành lập năm 1951 bởi các tín hữu từ 21 quốc gia, với mục tiêu kiến tạo sự hợp tác toàn cầu cho cộng đồng Tin Lành.

Tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội cũng là một đặc điểm của người Tin Lành hiện đại, họ nhận ra rằng thái độ co cụm để bảo vệ sự tinh tuyền của đức tin và chủ trương thoả hiệp để hội nhập đều không thích hợp, và họ chọn con đường, theo quan điểm của họ, đã được soi sáng trong Kinh Thánh, "ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian". Sự lựa chọn này được thể hiện tích cực trong các đề án xoá nạn mù chữ, nhận con nuôi, ngân hàng thực phẩm, các trung tâm chăm sóc trẻ em cũng như các cuộc vận động chống phá thai và chống việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính.

Nhiều tín hữu Tin Lành thuộc những giáo phái chính lưu (mainstream) tham gia vào các tổ chức đang nỗ lực đem giáo hội trở về với các giá trị căn bản của Cơ Đốc giáo, được thực hành trong thời kỳ hội thánh tiên khởi, được biết đến dưới tên Phong trào Xưng Nhận (Confessing movement). Cùng lúc, Phong trào Chánh Tín (Paleo–Orthodoxy),[11] với mục tiêu tương tự, hoạt động tích cực trong các giáo hội chính lưu, đặc biệt trong các giáo phái Giám Lý, kêu gọi họ trở về với cội nguồn tin lành của mình.

Phong trào Tin Lành khuyến khích tín hữu chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh. Nghi thức thờ phụng của họ thường được tổ chức đơn giản lập nền trên nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước Thiên Chúa.

Bên trong Phong trào Tin Lành vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về Kinh Thánh, giáo nghi và truyền thống giáo hội - một số không quan tâm đến những truyền thống cổ xưa nhưng tập chú vào tính nghệ thuật và sự sáng tạo. Nhưng nhìn chung, tín hữu Tin Lành không tin cậy những định nghĩa về đức tin, thường thay đổi theo những biến thiên của lịch sử, nếu chúng không phù hợp với sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Trái với những người quan tâm đến tính hoành tráng của giáo nghi, tín hữu Tin Lành chọn cho mình sự đơn sơ và giản tiện trong giáo nghi nhưng kêu gọi sự tham gia tích cực của tín hữu vào lễ thờ phượng. Trong thờ phượng, tín hữu Tin Lành thường đặt trọng tâm vào sự luận giải Kinh Thánh và tham dự thánh lễ Tiệc Thánh hơn là những chi tiết cầu kỳ của giáo nghi.

Phong trào Nền tảng[sửa | sửa mã nguồn]

Phong trào Nền tảng (Fundamentalism) hình thành vào đầu thế kỷ 20 như một phản ứng có tính bảo thủ bởi những tín hữu Kháng Cách theo truyền thống, nhằm đối kháng với các trào lưu tân phái (modernism) và tự do (liberalism) đang phát triển mạnh mẽ trong các giáo hội của họ. Những trào lưu này nỗ lực thay đổi các xác tín truyền thống của hội thánh sao cho phù hợp với các giá trị mới của một thế giới luôn luôn thay đổi. Vì vậy, dưới cái nhìn của người Nền tảng, những khuynh hướng kể trên là mối đe dọa cho đức tin và xã hội khi họ cố thoả hiệp với tư tưởng của Phong trào Khai sáng (Enlightenment) bằng cách bác bỏ những nguyên lý của cuộc Cải cách Kháng Cách.

Bắt đầu có sự tranh chấp trong vòng các giáo phái Kháng Cách, đặc biệt ở Hoa KỳCanada, giữa các nhóm Nền tảng và Tân phái. Nhiều người Nền tảng rút lui khỏi các giáo phái và các định chế khác chịu ảnh hưởng của tư tưởng tân phái. Những người khác quyết định ở lại và hoạt động bên trong giáo phái của mình để duy trì và phát triển đức tin truyền thống. Những người này tự gọi mình là "Tin Lành Hiện đại".

Phong trào Tin Lành Hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Tin Lành của người Hoa tại Madrid (Tây Ban Nha)

Trong thập niên 20 và 30 của thế kỷ 20, Phong trào Tin Lành Hiện đại (Neo-Evangelicalism), đến phiên mình, là phản ứng của những người Kháng Cách truyền thống đối với chủ trương biệt lập của phong trào Nền tảng. Năm 1947, Harold Ockenga sử dụng thuật từ "Tin Lành Hiện đại" (Neo-evangelicalism) để phân biệt phong trào này với trào lưu Nền tảng. Lúc ấy có sự bất đồng bên trong phong trào nền tảng về lập trường cần có của hội thánh đối với một thế giới vô tín. Những người Tin Lành khuyến khích tín hữu chọn thái độ tham gia tích cực để góp phần kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn,[12] đồng thời bày tỏ sự quan ngại đối với chủ trương “co cụm để phòng thủ” của các nhóm nền tảng. Theo cách miêu tả của Kenneth Kantzer vào lúc ấy, lập trường nền tảng đã trở thành “một sự phiền toái thay vì là một niềm vinh dự”.[13]

Tín hữu Tin Lành hiện đại xem trào lưu tân phái và tự do trong các giáo hội Kháng Cách là tự chối bỏ xác tín của mình để thoả hiệp với nhân sinh quan và các giá trị của thế gian. Mặt khác, họ cũng cho rằng chủ trương biệt lập và bác bỏ thuyết phúc âm xã hội của người Nền tảng là một thái độ cực đoan. Theo nhận xét của họ, người tân phái là người Tin Lành đã đánh mất cội rễ của đức tin, và người nền tảng là người Tin Lành đã đánh mất lòng nhân ái của Chúa Cơ Đốc. Họ tin rằng phúc âm cần phải được tái khẳng định và tái công bố trong một cung cách mới. Vì vậy, xuất hiện thuật ngữ Neo - mới hoặc được làm cho mới.

Họ tìm cách tham gia vào thế giới hiện đại với thái độ tích cực, không phải để thoả hiệp - vẫn giữ mình khỏi tinh thần thế tục nhưng không tách rời khỏi thế gian – họ chọn con đường trung dung giữa khuynh hướng Tân phái và khuynh hướng Nền tảng.

Ngày nay, với ảnh hưởng rộng lớn trong cộng đồng Kháng Cách, Tin Lành Hiện đại được xem là đồng nghĩa với Phong trào Tin Lành, đại diện cho những tín hữu Cơ Đốc liên kết đức tin của mình với các giá trị truyền thống của hội thánh tiên khởi.

Các tổ chức xuyên giáo phái[sửa | sửa mã nguồn]

Tín hữu Tin Lành, từ các giáo phái khác nhau, thường tìm kiếm sự hợp tác vượt qua ranh giới giáo phái nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực truyền giáotruyền bá phúc âm, lại thường có thái độ e dè đối với các định chế mang tính giáo phái. Kết quả là xuất hiện nhiều tổ chức hoặc hội đoàn, dựa trên giáo hội nhưng không phụ thuộc vào giáo hội, được thành lập với các mục tiêu riêng biệt, được gọi là các tổ chức xuyên giáo phái (parachurch organizations).

Các nhóm này hoạt động đồng bộ (para-) với các giáo hội. Qua nhiều tổ chức khác nhau, một trong những chức năng của họ là đóng vai trò cầu nối giữa giáo hội và nền văn hoá bản địa. Hình mẫu này khởi nguồn từ cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ hai trong thế kỷ 19, dần dần được hoàn chỉnh vào hạ bán thế kỷ 20.[2]

Với mô hình các tổ chức không vụ lợi hoặc các hội đoàn tư nhân, hoạt động như một phần của Phong trào Tin Lành mà không nhận sự tài trợ của giáo hội, cũng không dẫm chân vào các lãnh vực truyền thống của giáo hội. Các tổ chức xuyên giáo phái chú trọng vào tính hiệu quả của công việc cũng như tinh thần cộng tác nhằm hoàn thành một số sứ mạng đặc biệt, trên qui mô quốc gia hoặc quốc tế, mà các nhà thờ riêng lẻ không có khả năng thực hiện.

Một số hội đoàn hoặc tổ chức được xem là hình mẫu cho các tổ chức xuyên giáo phái:

  • Hiệp hội truyền bá Phúc âm (theo khuôn mẫu của Hiệp hội Billy Graham).
  • Các tổ chức truyền bá phúc âm và bồi linh như The Navigators, Campus Crusade for Christ.
  • Những nhà xuất bản sách báo và âm nhạc, đài phát thanh, truyền hình, hãng phim và internet.
  • Các học viện, trung tâm nghiên cứu, trường trung học và đại học.
  • Các nhóm hoạt động chính trịxã hội.
  • Các nhóm tương trợ.
  • Các nhóm nghiên cứu Kinh Thánh.

Theo một cuộc khảo sát (Green) thực hiện năm 1992, Phong trào Tin Lành là thành phần đông đảo nhất và năng động nhất trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tại Hoa KỳCanada (vượt qua Công giáo La Mã và các nhóm Kháng Cách không Tin Lành khác).

Toàn cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trên toàn cầu, cùng với Phong trào Ngũ Tuần, Tin Lành là phong trào phát triển mạnh nhất và có nhiều ảnh hưởng nhất trong cộng đồng Cơ Đốc giáo. Tốc độ phát triển là đặc biệt nhanh ở châu PhiMỹ Latin. Tại những nơi này, phong trào phát triển theo hướng đa dạng vì không phụ thuộc vào các giáo hội tại Âu châu hoặc Bắc Mỹ.

Liên hiệp Tin Lành Thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Liên hiệp Tin Lành Thế giới (World Evangelical Alliance) là

một mạng lưới các giáo hội có mặt trên 127 quốc gia, tại mỗi nước đều có liên hiệp Tin Lành cấp quốc gia, với hơn 100 tổ chức quốc tế cùng nhau hội hiệp để lập nên một thiết chế toàn cầu, một tiếng nói và diễn đàn cho hơn 420 triệu tín hữu Tin Lành.[10]

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Bên trong Nhà thờ Crystal Cathedral của Mục sư Robert Schuller là hình ảnh tiêu biểu cho một đại giáo đoàn.

Nhóm Nghiên cứu Barna[14] chuyên thực hiện các cuộc khảo sát trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tại Hoa Kỳ, trong năm 2004 đã phổ biến chín câu hỏi nhằm xác định xem người trả lời có thật sự chấp nhận quan điểm thần học của trào lưu Tin Lành hay không. Bảy trong số các câu hỏi này là:

  1. Bạn có phải là tín hữu Cơ Đốc đã được tái sinh?
  2. Đức tin là yếu tố rất quan trọng trong cuộc đời bạn?
  3. Bạn có tin vào trách nhiệm của mỗi cá nhân phải chia sẻ niềm tin tôn giáo của mình vào Chúa Cơ Đốc với những người không phải tín hữu Cơ Đốc?
  4. Bạn có tin vào sự hiện hữu của Satan?
  5. Bạn có tin rằng sự cứu rỗi để được hưởng sự sống vĩnh cửu là chỉ có được bởi ân điển, không phải bởi công đức?
  6. Bạn có tin Chúa Giê-xu Cơ Đốc không hề phạm tội trong những năm ngài sống trên thế gian?
  7. Bạn có tin Thiên Chúa là đấng toàn tri, toàn năng, là thần, là đấng tạo dựng vũ trụ và ngài đang tể trị?[15]

Nhiều người xem đây là những tiêu chí thẩm định đức tin của tín hữu Cơ Đốc thuộc trào lưu Tin Lành.

Theo các cuộc khảo sát của Gallup, năm 1976 có 34% người Mỹ nhận mình là tín hữu Kháng Cách theo khuynh hướng Tin Lành. Tỷ lệ này là 33% trong hai năm 19871988 (thời điểm bùng nổ những vụ tai tiếng liên quan đến các nhà thuyết giáo Ngũ Tuần). Đến năm 1998 tăng lên 47%. Con số này trong năm 20002001 lần lượt là 45% và 40%. Dựa trên những kết quả khảo sát kéo dài trong nhiều năm, Gallup ước tính có gần 39% dân số Hoa Kỳ nhận mình là tín hữu Tin Lành.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dictionary.com
  2. ^ a b c Larry Eskridge (1995). “Defining Evangelicalism”. Institute for the Study of American Evangelicals. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2008. 
  3. ^ Gerstner, John H. (1975). “The Theological Boundaries of Evangelical Faith”. Trong David P. Wells. The Evangelicals. John D. Woodbridge. Nashville: Abingdon Press. tr. 21–36. ISBN 0687121817. ‘Dù có vị trí nổi bật trong Tân Ước, euangellismos - từ nguyên của "Tin Lành" - không được sử dụng rộng rãi cho đến khi xảy ra cuộc Cải cách Kháng Cách. Luther tái khẳng định giáo thuyết của Sứ đồ Phao-lô về euangellismos, xem đó là thông điệp tuyệt đối cần thiết cho sự cứu rỗi. Theo Luther, ánh sáng phúc âm đã bị che giấu dưới chiếc thùng của thẩm quyền giáo hội, truyền thống, và nghi thức. Ý nghĩa thật của thông điệp cứu rỗi là chỉ bởi đức tin mà tội nhân được xưng công chính. Đây là niềm xác tín căn cốt không chỉ cho hội thánh mà cho từng cá nhân tín hữu. Trong lịch sử, Erasmus, Thomas More, và Johannes Eck đã gọi những người chấp nhận giáo thuyết này, với ý nhục mạ, là “người Tin Lành”.’ 
  4. ^ Luo, Michael (16 tháng 4 năm 2006). “Evangelicals Debate the Meaning of 'Evangelical'”. The New York Times (nytimes.com). 
  5. ^ Mead, Walter Russell (2006). “God's Country?”. Foreign Affairs. Council on Foreign Relations. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2008. 
  6. ^ a b Defining Evangelicalism - Institute for the Study of American Evangelicalism – Wheaton College
  7. ^ Bebbington, D. W. (2008). Evangelicals in Modern Britain: A History from the 1730s to the 1980s, London: Unwin, 1.
  8. ^ John C. Green (2004). “The American Religious Landscape and Political Attitudes: A Baseline for 2004”. Ray C. Bliss Institute of Applied Politics. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008. 
  9. ^ Donald Scott (2000). “Evangelicalism as a Social Movement”. National Humanities Center, Queens College / City University of New York. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008. 
  10. ^ a b “The Introduction of World Evangelical Alliance”. World Evangelical Alliance. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2008. 
  11. ^ Eric Landstrom. “Thomas Oden's Paleo-Orthodoxy”. 
  12. ^ Henry, Carl F.H., (1947), The Uneasy Conscience of Modern Fundamentalism; reprinted, (2003), Eerdmans, Grand Rapids
  13. ^ Kenneth Kantzer, The Fundamentalist-Evangelical Split retrieved July 2005
  14. ^ The Barna Group
  15. ^ George Barna (2004). “Evangelical Christians”. Barna Group. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bebbington, David. Evangelicalism in Modern Britain: A History from the 1730s to the 1980s. Unwin Hyman (London), 1989.
  • Green, John, Guth, James, et.al. Akron Survey of Religion and Politics in America 1992. As quoted in Noll, Mark. Scandal of the Evangelical Mind. Eerdmans, 1994.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thần học và Biện giáo

Nghiên cứu

Hiệp hội