Tuyến phòng thủ Maginot

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tuyến Maginot
Biên giới phía đông Pháp
Maginot line 1.jpg
Đường vào Ouvrage Schoenenbourg trên tuyến Maginot tại Alsace
Loại Tường phòng thủ
Xây dựng 1930–40
Vật liệu
xây dựng
bê tông, sắt
Sử dụng 1935–69
Kiểm soát bởi Pháp
Trận đánh Trận đánh nước Pháp, Thế chiến II

Tuyến phòng thủ Maginot (IPA: [maʒi'noː], tiếng Pháp: Ligne Maginot), lấy tên của bộ trưởng quốc phòng Pháp André Maginot, là một công trình xây dựng quân sự dọc biên giới Pháp-Đức và Pháp-Ý với mục đích bảo vệ lãnh thổ Pháp sau kinh nghiệm của Thế chiến thứ nhất. Tuyến phòng thủ gồm các tường thành bê tông với nhiều ụ chống tăng, lô cốt đại bác, ổ súng máy và đồn quân sự.

Theo kế hoạch an ninh quốc gia của Pháp lúc này thì tường Maginot sẽ làm chậm bước tấn công của quân địch tạo đủ thời gian để lực lượng từ trung ương kéo ra, đồng thời buộc quân địch phải tấn công nước Bỉ trung lập nếu muốn kéo qua biên giới. Quân Pháp từng đạt thắng lợi nhờ chiến thuật đánh cầm cự trong thế chiến thứ nhất do đó tường Maginot được thiết kế theo khuynh hướng chiến thuật này. Trên thực tế đây là một sai lầm lớn vì năm 1940 Đức vẫn tấn công Bỉ, chọc ngang sườn của tuyến Maginot và tiến sang dễ dàng.[1] Tuyến Maginot dừng lại tại biên giới Pháp-Bỉ nhưng có nối liền với tường phòng thủ của Bỉ, với điểm cầm cự mạnh nhất tại Đồn Eben-Emael.[2] Quân Đức Quốc Xã tấn công vào ngay điểm này bằng lính dù và pháo kích. Trong vòng hai ngày thì tường phòng thủ vỡ và cuộc xâm chiếm Pháp bắt đầu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ www.dushkin.com
  2. ^ Mosier, J. The Blitzkrieg Myth: How Hitler and the Allies Misread the Strategic Realities of World War II, HarperCollins, 2004, pp. 2, 38.