Albert Kesselring

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Albert Kesselring
Bundesarchiv Bild 183-R93434, Albert Kesselring.jpg
Albert Kesselring
Tiểu sử
Biệt danh Albert hay cười
Sinh


Marktsteft, Bavaria, Đế quốc Đức
Mất


Bad Nauheim, Tây Đức
Binh nghiệp
Phục vụ Đế quốc Đức Đế quốc Đức (đến năm 1918)
Đức Cộng hòa Weimar (đến năm 1933)
Đức Quốc Xã Đức Quốc Xã (đến năm 1945)
Thuộc Deutsches Heer (1904-1922)
Reichswehr (1922-1933)
Luftwaffe (1933-1945)
Năm tại ngũ 1904-1945
Cấp bậc Thống chế
Chỉ huy Luftflotte 1
Luftflotte 2
Binh đoàn C
Mặt trận miền Nam
Mặt trận miền Tây
Tham chiến

Thế chiến I
Thế chiến II

Khen thưởng Thập tự Sắt (hạng hiệp sĩ có lá Xồi, Kiếm và Kim cương)

Albert Kesselring (30 tháng 11 năm 1885, 16 tháng 7 năm 1960) là thống chế không quân Đức Quốc Xã trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Được quân Đồng Minh đặt biệt hiệu là "Albert hay cười" (smiling Albert)[Notes 1] và binh lính của ông đặt biệt hiệu "Bác Albert", ông là một trong những vị tướng được lòng binh lính nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai.[1]. Kesselring là một trong những tướng tài giỏi nhất của Hitler, ông từng tham gia trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, và về sau chỉ huy không quân Đức trong các cuộc tấn công vào Ba Lan, Pháp, Anh Quốc, và Liên Xô.

Ông nắm quyền tổng tư lệnh phía Nam, chỉ huy toàn khu vực chiến trường Địa Trung Hải, trong đó có chiến trường Bắc Phi. Khi quân Đồng Minh tấn công vào Ý, Kesselring cầm quân kháng cự lâu dài, gây trở ngại rất lớn cho quân địch. Ông cũng tham gia tại mặt trận tây Âu trong giai đoạn cuối của cuộc chiến.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, Kesselring bị đem ra xử tội ác chiến tranh và kết án tử hình nhưng sau đó được giảm án xuống tù chung thân. Trong tù ông được cử làm chủ tịch nhóm Tân Quốc Xã [2]. Năm 1952 ông được trả tự do.

Tuy ông không là đảng viên đảng Quốc Xã Đức [3], Albert Kesselring không hề phản đối những tội ác của quân Đức do ông chỉ huy gây nên. Ông cũng luôn tỏ rõ lòng trung thành với Hitler [4]

Albert Kesselring là một trong hai thống chế Đức duy nhất có cho xuất bản sách hồi ký về chiến tranh, mang tựa đề "Người Lính Cho Đến Ngày Cuối Cùng"

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Biệt hiệu "Albert hay cười" là do phe Đồng Minh đặt cho ông. Các tác giả Đức không dùng đến nó. Cái tên này được dùng trong chiến tranh; xem “Up the Boot”. Time. 19 tháng 4 năm 1944. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2009. 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ von Lingen, Kesselring's Last Battle, p. 16
  2. ^ Bund der Frontsoldaten' wahlt Kesselring zum Prasidenten, National Zeitung, 8 tháng 8 năm 1952.
  3. ^ Gellately (ed), The Nuremberg Interviews, p. 319
  4. ^ Albert Kesselring profile at the Deutsches Historisches Museum, Berlin.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]