Rồng Komodo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rồng komodo
Varanus komodoensis1.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Reptilia
Bộ (ordo) Squamata
Phân bộ (subordo) Sauria
Họ (familia) Varanidae
Chi (genus) Varanus
Loài (species) V. komodoensis
Danh pháp hai phần
Varanus komodoensis
Ouwens, 1912

Rồng komodo (Varanus komodoensis) là loài thằn lằn lớn nhất thế giới vẫn còn sống[1][2][3] với chiều dài trung bình từ 2 đến 3 mét. Đây là một loài động vật thuộc Họ Kỳ đà, (Varanidae), sống trên một số đảo của Indonesia[2].

Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Rồng Komodo sống đông nhất trên đảo Komodo.[4] Đây là một trong số 17.508 hòn đảo của Indonesia. Đảo Komodo có diện tích khoảng 1.800 km² nhưng thưa dân chỉ trên 2.000 người. Hòn đảo này là một phần của Vườn quốc gia Komodo. Tên của loài bò sát này là gọi theo địa danh của hải đảo này.[3]

Rồng Komodo có thể thích hợp ở nhiều môi trường khác nhau. Chúng có khả năng lặn sâu 5m dưới mặt nước để mò , nhưng cũng có thể leo trèo như thằn lằn trên cây. Rồng Komodo là loài đặc hữu của Indonesia; ngoài xứ này, không đâu có. Theo khoa học, rồng Komodo là loài cận chủng với giống khủng long ngày xưa, đã tuyệt chủng cách đây hàng triệu năm. Australia một thời có loài thú giống như rồng Komodo với kích thước to gấp ba lần nhưng loài bò sát đó cũng không còn. Còn lại chỉ là những bộ xương hóa thạch.[5]

Rồng Komodo là loài thích hợp sống trong môi trường vô cùng khắc nghiệt của những hòn đảo núi lửa khô cằn. Indonesia hiện còn khoảng 3.500 cá thể rồng Komodo trong đó chỉ có khoảng 350 cá thể rồng cái.[2]

Mặc dù rồng Komodo được bảo vệ nghiêm ngặt, song tình trạng thu hẹp môi trường sống do con người lấn chiếm cùng những tác động thiên nhiên của núi lửa, lượng rồng cái ít oi, nên giống này là loài có nguy cơ tuyệt chủng rất cao.

Đặc điểm sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Rồng Komodo là loài ăn thịt nhưng khá đa dạng, bao gồm các loại côn trùng cho đến các loại thú lớn như , trâu rừng, lợn lòi. Thậm chí chúng ăn thịt cả đồng loại. Sinh sống trên đảo Komodo, loài thú này chỉ có một kẻ thù duy nhất, chính là những con rồng lớn hơn. Ngay cả những con rồng trưởng thành cũng không ngại sát hại đồng loại to lớn bằng nhau nếu có dịp.[6]

Rồng Komodo là một trong những động vật có xương sống có khả năng trinh sản.[3]

Chiều dài một con rồng Komodo lớn trung bình từ 2 đến 3m và có thể nặng đến 1,6 tạ. Rồng Komodo là loài ăn thịt vô cùng hung dữ. Nhiều người đâ bị loài rồng này tấn công và ăn thịt. Đây là loài săn mồi vô cùng kinh hoàng với bộ máy tiêu hóa cực mạnh. Chúng có thể xơi một lúc lượng thịt bằng 80% trọng lượng cơ thể, nghĩa là, một con rồng nặng 100 kg có thể ăn 80 kg thịt sống. Chúng ăn cả xương kể cả xương động vật lớn như trâu.[7]

Rồng Komodo có một bộ hàm cực khỏe, trang bị răng sắc lại sẵn tính háu ăn. Một nhát cắn có thể truyền chất kịch độc vào cơ thể con mồi vì nước dãi có sẵn nhiều vi khuẩn làm con mồi dễ nhiễm trùng. Sức mạnh bộ hàm, cùng với độc tính nước dãi, sẽ giết chết con mồi, dù đó là trâu mộng[7].

Thính giácthị giác của rồng Komodo rất kém nhưng ngược lại khứu giác rất tinh, cảm nhận bằng lưỡi. Bằng cách thè lưỡi để "nếm" không khí, chúng có thể đánh hơi được xác chết cách xa 10km. Việc ăn xác chết đối với rồng Komodo là thường vì sau khi tấn công, con mồi tuy chạy thoát sẽ bị nhiễm độc vì vết cắn và dù chạy xa 10 km trước khi chết, rồng Komodo sẽ đánh hơi tìm đến nơi để ăn thịt.[3]

Nước miếng[sửa | sửa mã nguồn]

Rồng Komodo thường chảy nước dãi rất nhiều và nước miếng này giống như thuốc độc vì có chứa rất nhiều vi khuẩn nguy hiểm. Khi bị cắn, nếu vết thương không được điều trị sẽ bị tử vong[8].

Tuy có thể không hạ gục ngay một con mồi to lớn như trâu, , nhưng chúng thích săn mồi theo cách riêng. Bất kì vết cắn nào cũng sẽ làm cho con mồi nhiễm trùng. Sau đó, chúng chỉ việc bám sát con mồi đến bất kì nơi nào và chỉ sau vài ngày, hoặc vài tuần là con mồi chết và chúng tiến đến ăn thịt. Theo các nhà khoa học, các tuyến nọc độc trong miệng của rồng phát ra một chất chống đông máu ở vết thương, điều này làm cho các vết thương của con mồi càng chảy máu nhiều hơn và làm cho con mồi nhanh suy yếu.

Mặc dù vậy, loài rồng này lại có khả năng tự miễn dịch với những vết thương do đồng loại cắn. Như khi một con đực muốn tấn công con đực khác đến cướp bạn tình hoặc lãnh thổ, nó sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lợi ích, trong cuộc chiến, khi nó bị thương thì hệ miễn dịch của chúng đủ mạnh để kháng khuẩn và làm cho vết thương nhanh khỏi[2].

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Rồng Komodo đẻ trứng. Vỏ trứng dai, dính và to lên khi rồng con trong trứng phát triển. Lúc trứng sắp nở, khối lượng tăng lên khoảng 50%. Rồng cái đẻ khoảng 20 trứng và vùi trứng trong cát[2].

Rồng con dùng bộ răng sắc để phá trứng chui ra ngoài. Vừa ra khỏi trứng, nó đã xông xáo tự đi kiếm ăn mà không cần sự bảo vệ của bố mẹ. Chính vì thế, chúng dễ dàng thành con mồi cho rồng lớn hơn[2].

Chỉ 3-5 năm là rồng Komodo trưởng thành và 10 năm sau có thể sinh sản. Tuổi thọ của chúng từ 30 đến 50 năm[3].

Di chuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Vì rồng Komodo là loài bò sát máu lạnh, nên chúng thường giảm thiểu hoạt động cho đến khi cần thiết. Gống như loài cá sấu, rồng Komodo có thể tổng lực năng lượng để tăng tốc độ khi săn mồi hoặc chạy trốn khỏi kẻ thù và nó có thể chạy với tốc độ 20 km/h.

Rồng Komodo bơi giỏi, nó có thể lặn sâu 4,5 m. Ngoài ra, nó còn biết leo trèo khá tốt, đặc biệt là lúc còn nhỏ nhờ những chiếc móng vuốt cực kì khỏe và sắc [2].

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Vườn thú Surabaya, phía đông Java đã thực hiện chương trình ấp 21 quả trứng rồng Komodo và đã cho ra bảy chú rồng con[9]. Loài vật hiếm này đang có nguy cơ tuyệt chủng khi chỉ còn 5.000 cá thể trong đời sống hoang dã. Nhưng có những lo ngại rằng chỉ còn khoảng 300 con cái là có khả năng sinh sản[2].

Trung tâm Bảo tồn Tài nguyên Quốc gia Indonesia (BBKSDA) tại tỉnh East Nusa Tenggara cho biết khoảng trên 40 con rồng Komodo đã chạy ra và sống bên ngoài các khu vực trong Công viên Quốc gia dành riêng cho loài bò sát khổng lồ, do môi trường sống của chúng bị đe dọa[10].

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Varanus komodoensis tại Wikimedia Commons

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hocknull SA, Piper PJ, van den Bergh GD, Due RA, Morwood MJ, Kurniawan I (2009). “Dragon's Paradise Lost: Palaeobiogeography, Evolution and Extinction of the Largest-Ever Terrestrial Lizards (Varanidae)” (Free full text). PLoS ONE 4 (9): e7241. doi:10.1371/journal.pone.0007241. PMC 2748693. PMID 19789642. 
  2. ^ a ă â b c d đ e Ngọc Huế (25/01/2012 08:00 GMT+7). “Thế giới kỳ thú của loài rồng Komodo”. Báo VietNamNet. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2013. 
  3. ^ a ă â b c An Thái My (4 tháng 10 năm 2012). “Xứ sở của loài rồng cực kỳ hung dữ”. Báo điện tử VTC News. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2013. 
  4. ^ Đảo rồng Komodo hay Vườn quốc gia Komodo là một hòn đảo nằm ở trung tâm của quần đảo Indonesia, giữa các hòn đảo SumbawaFlores.
  5. ^ Các nhà khoa học thì đã phát hiện những hóa thạch của loài rồng Komodo ở bang Queensland (Australia) và chúng được cho là đã biến mất cách đây 19.000 năm với kích thước lớn gấp 2 lần rồng komodo hiện nay đang sinh sống.
  6. ^ Các nhà khoa học ước tính rằng, có khoảng 10% lượng thức ăn của rồng trưởng thành là từ thịt của rồng nhỏ hơn.
  7. ^ a ă Văn Dương (13:55, 29/03/2013). “Rồng Komodo săn trâu nước”. BÁO ĐẤT VIỆT. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2013. 
  8. ^ Các nhà khoa học ở Trường đại học Texas xác định được 57 loại vi khuẩn khác nhau trong miệng rồng hoang dã.
  9. ^ 22/3/2013 8:48:51 AM, Linh San, 7 con rồng Komodo hiếm chào đời ở Indonesia, CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG.
  10. ^ 06/09/2012 | 11:32:00, Việt Tú/Jakarta (Vietnam+) Môi trường sống của rồng Komodo đang bị đe dọa, VietnamPlus, TTXVN.

Nghiên cứu thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Attenborough, David (1957). Zoo Quest for a Dragon. London: Lutterworth Press. 
  • Auffenberg, Walter (1981). The Behavioral Ecology of the Komodo Monitor. Gainesville: University Presses of Florida. ISBN 0-8130-0621-X. 
  • Burden, W. Douglas (1927). Dragon Lizards of Komodo: An Expedition to the Lost World of the Dutch East Indies. Kessinger Publishing. ISBN 0-7661-6579-5. 
  • Eberhard, Jo; King, Dennis; Green, Brian; Knight, Frank; Keith Newgrain (1999). Monitors: The Biology of Varanid Lizards. Malabar, Fla: Krieger Publishing Company. ISBN 1-57524-112-9. 
  • Lutz, Richard L; Lutz, Judy Marie (1997). Komodo: The Living Dragon. Salem, Or: DiMI Press. ISBN 0-931625-27-0. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]