Lực lượng vũ trang Indonesia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lực lượng vũ trang Quốc gia Indonesia
Tentara Nasional Indonesia
Lambang TNI.png
Phù hiệu của Lực lượng vũ trang Quốc gia Indonesia
Các nhánh phục vụ Indonesian Army TNI AD (Lục quân)

Indonesian National Navy TNI AL (Hải quân)
Indonesian National Air Force TNI AU (Không quân)

Sở chỉ huy Jakarta
Lãnh đạo
Tư lệnh tối cao các Lực lượng vũ trang Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono
Bộ trưởng Quốc phòng Purnomo Yusgiantoro
Tư lệnh các Lực lượng vũ trang Đại tướng Moeldoko
Nhân sự
Số quân tại ngũ 476,000 người
Phí tổn
Ngân sách $8.4 tỉ USD (2013)
Phần trăm GDP 1.0% (2013)
Công nghiệp
Nhà cung cấp trong nước PT Pindad
PT PAL
LAPAN
IAe
PT Lundin Industry Invest
PT DAHANA
PT SRITEX
PT Sentra Surya Eka Jaya (SSE)
CV Maju Mapan
PT Fista Bahari Internusa
PT Sari Bahari Malang
PT Palindo Marine Shipyard[1]
PT Len Industri (Persero)
PT CMI Teknologi[2]
PT. Dok dan Perkapalan (DKB) Kodja Bahari
PT. Tesco Indomaritim
Nhà cung cấp nước ngoài  Pháp
 Anh Quốc
 Nga
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Flag of Germany.svg Đức
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
 Hàn Quốc
Flag of Brazil.svg Brasil
 Tây Ban Nha
 Canada
 Thụy Sĩ
 Thổ Nhĩ Kỳ
 Úc
 Hà Lan
Flag of Sweden.svg Thụy Điển
 Ba Lan
 Na Uy
Các bài viết liên hệ
Lịch sử Lịch sử quân sự Indonesia
Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc
Cách mạng Quốc gia Indonesia
Hồi giáo Darul(Indonesia)
Cộng hòa Nam Maluku
Chính phủ Cách mạng Indonesia
Permesta
Sát nhập Tây Papua vào Indonesia
Chiến dịch Trikora
Đối đầu Indonesia-Malaysia
Indonesia xâm chiếm Đông Timor
Nổi dậy ở Aceh
Phong trào giải phóng Papua
Indonesian tấn công Aceh 2003–2004

Quân đội Indonesia hay Lực lượng vũ trang Quốc gia Indonesia (tiếng Indonesia: Tentara Nasional Indonesia, viết tắt là TNI, tên trước đây là Angkatan Bersenjata Republik Indonesia, viết tắt là ABRI) có tổng quân số khoảng 361.823 người, gồm Lục quân (TNI-AD), Hải quân (TNI-AL), và Không quân (TNI-AU). Lục quân là nhánh lớn nhất trong quân đội Indonesia, với quân số vào khoảng 276.953 người đang phục vụ. Chi phí quốc phòng trong ngân sách Nhà nước chỉ chiếm 3% GDP nhưng được bổ sung bởi các hoạt động kinh doanh của quân đội và các quỹ tài trợ.

Cảnh sát Quốc gia Indonesia cũng đã từng là một nhánh của lực lượng vũ trang trong nhiều năm. Lực lượng cảnh sát chính thức được tách ra khỏi quân đội vào tháng 4 năm 1999, quá trình này hoàn tất vào năm 2000. Với quân số 150.000 người, lực lượng cảnh sát chiếm tỷ lệ trong tổng dân số nhỏ hơn nhiều so với hầu hết các nước khác. Tổng quân số của lực lượng cảnh sát quốc gia và cảnh sát địa phương năm 2006 vào khoảng 470.000 người.

Sau trận sóng thần năm 2004 ở Aceh, chính phủ Hoa Kỳ đã tạm đình chỉ lệnh cấm các trang bị trái phép và các xe quân sự để hỗ trợ cho các nỗ lực cứu trợ nhân đạo sau thảm họa sóng thần các vùng AcehNiasIndonesia.

Vào 22 tháng 11 năm 2005, Hoa Kỳ tuyên bố quan hệ quân sự với Indonesia sẽ được khôi phục. Một quyết định kết thúc 6 năm cho việc cấm buôn bán vũ trang do Hoa Kỳ áp đặt. Trang bị vũ khí: Lục quân: 476 xe tăng, 565 xe thiết giáp, 333 pháo xe kéo. Không quân: 90 máy bay chiến đấu, bao gồm một số máy bay: 10 F-16, 15 F-5, 35 Hawk109/209, 4 Su-27 Hải quân: 17 tàu Frigate, 16 tàu hộ vệ, 4 tàu tên lửa, 16 tàu chiến nhỏ, 2 tàu ngầm Type-209,9 trực thăng săn ngầm Wasp HAS-1.[3]

Danh sách các Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Ghi chú
Trung tướng Urip Sumohardjo 17 tháng 8 1945 – 12 tháng 11 1945 Chức vụ tạm quyền[4]
Đại tướng Sudirman 12 tháng 11 1945 – 29 tháng 1 1950 Chức vụ được gọi là Tư lệnh vĩ đại của Quân đội An ninh Nhân dân(Panglima Besar Tentara Keamanan Rakyat)[4]
Thiếu tướng TB Simatupang 29 tháng 1 1950 – 1952 Chức vụ được biết đến là Tổng tham mưu trưởng Lực lượng chiến đấu (Kepala Staf Angkatan Perang)[4]
Trống 1952–1955 Chức vụ bị Tổng thống Sukarno bãi bỏ sau chính biến17 tháng 1952[4]
Thiếu tướng A.H. Nasution tháng 12 1955 – tháng 3 1965 Chức vụ được biết đến là Tổng tham mưu trưởng Lực lượng chiến đấu (Kepala Staf Angkatan Perang)[4]
Trống 1965–68 Chức vụ bị Tổng thống Sukarno bãi bỏ sau chính biến G30S/PKI[4]
Đại tướng Suharto tháng 6 1968 – tháng 3 1973 Chức vụ được gọi là Tư lệnh Lực lượng vũ trang của Cộng hòa Indonesia(Panglima ABRI) đồng thời là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và An ninh
Đại tướng Maraden Panggabean tháng 3 1973 – tháng 4 1978 như trên
Đại tướng Mohammad Jusuf tháng 4 1978 – 28 tháng 3 1983 như trên
Đại tướng Benny Moerdani 28 tháng 3 1983 – 27 tháng 2 1988 Đồng thời là Tư lệnh chiến dịch phục hồi An ninh và Trật tự (Kopkamtib)
Đại tướng Try Sutrisno 27 tháng 2 1988 – 19 tháng 2 1993
Đại tướng Edi Sudrajat 19 tháng 2 1993 – 21 tháng 5 1993 Đồng thời Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và An ninh và Tham mưu trưởng Quân đội
Đại tướng Feisal Tanjung 21 tháng 5 1993 – 12 tháng 21998
Đại tướng Wiranto 16 tháng 2 1998 – 26 tháng 10 1999 Chức vụ được gọi là Tư lệnh các Lực lượng vũ trang Quốc gia Indonesia (Panglima Tentara Nasional Indonesia) từ năm 1999 đồng thời là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng An ninh
Đô đốc Widodo Adi Sutjipto 26 tháng 10 1999 – 7 tháng 6 2002 Đầu tiên của Hải quân và sĩ quan Lục quân không được bổ nhiệm
Đại tướng Endriartono Sutarto 7 tháng 6 2002 – 13 tháng 2 2006
Tư lệnh không quân Djoko Suyanto 13 tháng 2 2006 – 28 tháng 12 2007 sĩ quan đầu tiên của Không quân được bổ nhiệm
Đại tướng Djoko Santoso 28 tháng 12 2007 – 28 tháng 9 2010
Đô đốc Agus Suhartono STừ 28 tháng 9 2010 - 30 tháng 8 2013 Sĩ quan thứ 2 của Hải quân được bổ nhiệm
Đại tướng Moeldoko Từ 30 tháng 8 2013[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ PT Palindo Marine Shipyard
  2. ^ PT CMI Teknologi
  3. ^ [1]
  4. ^ a b c d e f [2][liên kết hỏng]
  5. ^ Rinaldo (30 Agustus 2013). “Presiden SBY Lantik Panglima TNI dan KSAD Pagi Ini”. liputan6dotcom. Truy cập 30 Agustus 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Quân độichâu Á LocationAsia.png

Afghanistan | Ai Cập | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia2 | Đài Loan (Quân đội Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc 3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanmar | Nepal | Nga1 | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippines | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Thổ Nhĩ Kỳ1 | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen