Người Mỹ gốc Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Mỹ gốc Việt
(Vietnamese American)
Cung Le at WonderCon 2009.JPG
JosephCaoOfficialPhoto2009.jpg
Viet Dinh by Gage Skidmore.jpg
DR- EUGENE TRINH.jpg
Janet Nguyen cropped.jpg
Tila Tequila 2008.jpg
MaggieQSDCCJuly10.jpg
Dustin Nguyen 22072007 BKKIFF.jpg
Han-Dinh.jpg
Michelle Phan Glamour Eyes kit signing at Sephora.jpg
JohnTran2.JPG
HubertVo.jpg
Tổng số dân
1.642.950
chiếm 0,55% tổng dân số Hoa Kỳ (2007).[1]
Khu vực có số dân đáng kể
Quận Cam, California, San Jose, California, Houston, Texas, nơi khác
Ngôn ngữ
Việt, Anh
Tôn giáo
Phật giáo, Cao Đài, Công giáo
Dân tộc thiểu số có liên quan
người Canada gốc Việt, người Úc gốc Việt, và các nhóm Việt kiều khác

Người Mỹ gốc Việt (tiếng Anh: Vietnamese American) là những người định cư tại Hoa Kỳ có nguồn gốc dân tộc Việt. Với tổng dân số được ước tính là 1.642.950 trong năm 2007, họ chiếm trên một nửa dân số người Việt hải ngoại trên thế giới. Họ cũng là cộng đồng dân tộc gốc Á lớn thứ tư tại Hoa Kỳ, sau người Mỹ gốc Hoa, người Mỹ gốc Ấn, và người Mỹ gốc Philippines.

Người Việt di cư đến Hoa Kỳ bằng số đông kể từ sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, với những người nhập cư đầu tiên là những người tị nạn cộng sản từ miền Nam Việt Nam được chính phủ Hoa Kỳ di tản. Tiếp theo là những thuyền nhân được cộng đồng quốc tế cứu vớt. Gần đây, những người Việt định cư vào Hoa Kỳ chủ yếu là để đoàn tụ gia đình. Bắt đầu từ hai bàn tay trắng, người Mỹ gốc Việt đã hòa nhập vào xã hội Hoa Kỳ và trở thành một cộng đồng dân tộc thiểu số đáng kể tại quốc gia này.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đợt thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số người Mỹ gốc Việt[2]
Năm Số người
trước 1975

15.000[3]

1980

245.025

1990

614.547

2000

1.122.528

2007 (ước tính)

1.508.489

Lịch sử của người Mỹ gốc Việt chỉ mới diễn ra gần đây trong khoảng hai ba chục năm đổ lại. Trước 1975, những người Việt tại Mỹ là vợ hoặc con của những người lính Mỹ tại Việt Nam hoặc là học sinh, thương gia đến định cư ở Mỹ, ước tính khoảng từ 15.000[3] đến 18.000 người.[4] Sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc Chiến tranh Việt Nam, làn sóng tị nạn đầu tiên bắt đầu. Nhiều người có mối quan hệ với Mỹ, sợ sự trả đũa của chính quyền mới, là làn sóng người đầu tiên rời Việt Nam vào mùa xuân năm 1975, gồm khoảng 125.000 người mà đa số là gia đình những người trí thức. Họ được chính phủ Hoa Kỳ vận chuyển bằng máy bay đến những căn cứ tại PhilippinesGuam, và sau đó được di chuyển đến những trung tâm tị nạn khắp nước Mỹ.

Thường dân miền Nam tranh nhau lên chiếc máy bay trực thăng Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam Cộng hòa khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc tháng 4 năm 1975
Bia kỷ niệm ở Trại Chaffee.

Những người tị nạn này, lúc đầu không nhận được sự hoan nghênh của dân chúng Hoa Kỳ; một cuộc thăm dò ý kiến vào năm 1975 cho thấy chỉ có 36% người dân Hoa Kỳ chấp nhận việc nhập cư của người Việt. Tuy vậy, Tổng thống Gerald Ford và những viên chức khác ủng hộ họ một cách mạnh mẽ bằng việc thông qua Đạo luật Di trú và Người Tị nạn Đông Dương (Indochina Migration and Refugee Act) trong năm 1975, cho phép họ nhập cư đến Hoa Kỳ bằng một vị thế đặc biệt. Những người Việt tị nạn được định cư rải rác khắp nước để giảm thiểu tác động của họ đối với những cộng đồng địa phương và hạn chế sự hình thành những khu vực tập trung dân tộc thiểu số. Tuy thế, trong vài ba năm thì hầu hết người Việt tị nạn đã tái định cư tại CaliforniaTexas, khiến hai tiểu bang này có dân số người Mỹ gốc Việt cao hơn cả.

trại Chaffee nơi tạm cư của người tỵ nạn năm 1975 có tấm bia ghi sự kiện này[5]:

Để tìm cuộc sống mới, 50.809 người tỵ nạn từ Đông Dương đã đến Trại Chaffee này từ 2 tháng 5 đến 20 tháng 12 năm 1975

Đợt thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1976 bắt đầu làn sóng người Việt tị nạn thứ hai cho đến giữa thập niên 1980. Nỗi lo của những người tị nạn đi trước đã biến thành sự thật. Ngay sau khi thống nhất Việt Nam, chính quyền mới tập trung những người có liên quan đến chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đưa họ đến những "trại cải tạo". Những người trong trại được dạy chủ nghĩa Marx-Lenin trong vài ba tháng, đồng thời phải lao động để tự cấp tự túc lương thực thực phẩm. Nhiều người khác phải đương đầu với nỗi lo bị cưỡng bách di cư đến những vùng "kinh tế mới". Nguyên nhân quan trọng khác là chính sách chuyên chính vô sản của chính quyền Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Chính sách lúc đó giới hạn tối đa các quyền tự do dân sự cũng như quyền tự do kinh tế của người dân, nền kinh tế bao cấp trở nên trì trệ gây ra tình trạng khốn khổ cho dân chúng trong mọi mặt của đời sống. Hàng trăm ngàn người trở thành thuyền nhân, vượt biên trong những chiếc ghe nhỏ chật chội, cực kỳ nguy hiểm trước những cơn sóng gió bất thần của biển Đông. Nếu thoát được hải tặc Thái Lan, Campuchia, hay những cơn sóng lật úp thuyền, họ thường được đến những trại tị nạn ở Thái Lan, Singapore, Indonesia, Hồng Kông hoặc Philippines, hầu đợi đi định cư ở nước thứ ba. Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Người Tị nạn năm 1980 (Refugee Act of 1980), giảm bớt những giới hạn việc nhập cư, trong khi nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chấp nhận Chương trình Ra đi có Trật tự (Orderly Departure Program hay ODP) do Hoa Kỳ đề xuất, dưới sự điều khiển của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees) do áp lực của quốc tế và nhu cầu đoàn tụ của nhiều người dân có thân nhân đã sinh sống tại hải ngoại. Chương trình này cho phép một số người dân rời khỏi Việt Nam một cách hợp pháp để đoàn tụ gia đình và những lý do nhân đạo khác. Một vài đạo luật của Hoa Kỳ được thông qua cho phép con cái của những quân nhân Hoa Kỳ và những cựu tù nhân chính trị và gia đình họ cũng như gia đình những người có con lai Mỹ được định cư ở Hoa Kỳ. Giữa những năm 19812000, Hoa Kỳ tiếp nhận 531.310 người tị nạn từ Việt Nam.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Phân bổ tiếng Việt tại Hoa Kỳ

Theo Điều tra Dân số Hoa Kỳ 2000, có 1.122.528 người tự nhận là thuần gốc Việt và 1.223.736 khi tính thêm các người Việt lai với các chủng tộc khác. Trong số đó, 447.032 người (39,8%) sống ở California và 134.961 (12,0%) sống ở Texas. Nơi người gốc Việt sống đông nhất bên ngoài nước Việt NamQuận Cam tại California, có 135.548 người Việt. Những công ty người Việt có ở khắp nơi tại WestminsterGarden Grove, còn được gọi là khu Sài Gòn Nhỏ (Little Saigon): tại Westminster họ chiếm 30,7% dân số và tại Garden Grove họ chiếm 21,4% dân số.

Người Mỹ gốc Việt là một trong những nhóm người nhập cư mới nhất tại Hoa Kỳ, cho nên họ là nhóm có tỷ lệ người lai chủng tộc khác thấp nhất trong các nhóm người Mỹ gốc Á châu chính. Theo điều tra năm 2000, có đến 1.009.627 người 5 tuổi trở lên tự khai rằng họ nói tiếng Việt ở nhà, làm cho tiếng Việt đứng thứ 7 trong những ngôn ngữ phổ thông tại Hoa Kỳ.

Là người tị nạn, người Mỹ gốc Việt có một tỷ lệ nhập tịch khá cao, cao nhất trong các nhóm người gốc Á châu[6]. Trong năm 2007, 72,6% của những người sinh ngoài Hoa Kỳ là công dân, cộng thêm 37,5% số người sinh tại Hoa Kỳ dẫn đến tổng cộng 82,8% người Mỹ gốc Việt là công dân Mỹ[1].

Theo cuộc khảo sát năm 2007, người Mỹ gốc Việt có tỉ lệ 50,5% nữ và 49,5% nam, và tuổi trung bình là 34,5, so với 36,7 cho toàn bộ dân số Hoa Kỳ. Tỉ lệ tuổi tác cho người Mỹ gốc Việt là[1]:

Tuổi  % người Mỹ gốc Việt  % người Mỹ nói chung
< 5 8,1 6,9
5-17 19,2 17,7
18-24 8,7 9,9
25-34 14,9 13,3
35-44 18,4 14,4
45-54 13,0 16,4
55-64 9,5 10,9
65-74 5,1 6,4
> 75 2,9 6,1

Mỗi gia đình có trung bình 3,8 người, so với 3,2 người cho người Mỹ nói chung. Số tiền thu nhập cho mỗi đầu người Mỹ gốc Việt hàng năm là 20.074 đô la, thấp hơn con số 26.688 đô la cho mỗi người Mỹ.

Tính về trình độ học vấn, người Mỹ gốc Việt có tỉ lệ người chưa tốt nghiệp trung học (26,7%) cao hơn người Mỹ nói chung (15,5%) trong số những người trên 25 tuổi - bởi vì một lượng lớn người Việt khi đến Mỹ đã đến tuổi lao động và cộng thêm tiếng Anh thì không rành. Nhưng số người Mỹ gốc Việt có bằng cử nhân (19,1%) thì cao hơn người Mỹ nói chung (17,4%) - những người Việt này phần lớn là F2, sinh ra tại Mỹ, hoặc đến Mỹ khi còn nhỏ tuổi.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một cuộc nghiên cứu năm 2008 của Học viện Manhattan, người Mỹ gốc Việt là một trong những nhóm người nhập cư có chỉ số hội nhập cao nhất tại Hoa Kỳ.[7] Trong khi chỉ số hội nhập về văn hóa và kinh tế không có gì đặc biệt khi so với các nhóm khác (có thể vì sự khác biệt ngôn ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt), chỉ số hội nhập về quyền công dân là cao nhất trong các nhóm người nhập cư đáng kể.[7] Người Mỹ gốc Việt là những người tị nạn chính trị, xem việc về lại Việt Nam là việc bất khả thi, nên tham gia các hoạt động chính trị tại Hoa Kỳ với tỷ lệ rất cao.[7]

Lập trường chống cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa được người Mỹ gốc Việt sử dụng trong một cuộc diễu hành

Là những người tị nạn cộng sản, nhiều người Mỹ gốc Việt có quan điểm chống cộng mãnh liệt. Trong một cuộc thăm dò ý kiến cho tờ báo Orange County Register năm 2000, 71% người trả lời là việc đấu tranh chống cộng là việc "ưu tiên hàng đầu" hay "rất quan trọng" và 77% coi trọng việc thúc đẩy chính phủ Việt Nam cải thiện chính sách nhân quyền.[8] Người Mỹ gốc Việt thường xuyên biểu tình chống chính phủ Việt Nam, lên án tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, và biểu tình chống đối những cá nhân hay đoàn thể mà họ cho rằng ủng hộ chính quyền Việt Nam.[9] Một thí dụ cụ thể là vào năm 1999, một cuộc biểu tình rầm rộ nhằm chống một người làm nghề cho thuê mướn băng video tại Westminster tên là Trần Trường khi ông này treo cờ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và một bức hình của Hồ Chí Minh. Số người biểu tình lên đến 15.000 người trong một đêm,[10] gây nên tranh cãi về vấn đề tự do ngôn luận tại Hoa Kỳ. Trước kia những đảng viên Dân chủ ít được người Mỹ gốc Việt ủng hộ vì họ được xem là khuynh tả hơn, nhưng gần đây họ được nhìn bằng ánh mắt thiện chí hơn bởi thế hệ thứ hai, giới trẻ hay những người có lợi tức kém hơn.[11] Tuy nhiên, Đảng Cộng hòa vẫn giành số người ủng hộ áp đảo: tại Quận Cam số người Mỹ gốc Việt ghi danh theo Đảng Cộng hòa cao gấp đôi số người ghi danh theo Đảng Dân chủ, với tỉ lệ là 55% và 22%,[12] và một cuộc thăm dò ý kiến toàn quốc cho thấy trong năm 2008 tỷ lệ người Mỹ gốc Việt theo đảng Cộng hòa là 29% so với 22% cho đảng Dân chủ.[13] Trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2004, 72% cử tri người Mỹ gốc Việt bỏ phiếu cho ứng cử viên Cộng hòa đương nhiệm George W. Bush trong khi chỉ 28% bỏ phiếu cho ứng cử viên Dân chủ John Kerry.[14] Trong một cuộc thăm dò ý kiến cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, 2/3 trong số các cử tri Mỹ gốc Việt đã chọn ứng cử viên có ý định bầu cho ứng cử viên Cộng hòa John McCain.[13]

Gần đây, nhiều nhóm người Mỹ gốc Việt đã vận động trong Chiến dịch Cờ Vàng thành công ở một số thành phố và tiểu bang với mục đích dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hòa cũ làm biểu tượng đại diện cho cộng đồng người Việt tại địa phương. Tháng 8 năm 2006, chính phủ tiểu bang CaliforniaOhio đã thông qua đạo luận để công nhận lá cờ này. Chính phủ Việt Nam phản đối việc này và đây là một trong những điểm gây ra bất đồng trong quan hệ Việt-Mỹ.

Đầu năm 2012, hơn 150.000 người Mỹ gốc Việt đã tham gia một chiến dịch ký thỉnh nguyện thư khiến Bộ Ngoại giao Mỹ chú ý. Kết quả của cuộc vận động nhân quyền lớn nhất từ trước đến nay của cộng đồng người Mỹ gốc Việt là chính phủ Hoa Kỳ phái Thứ trưởng Ngoại giao là Michael Posner mở cuộc tiếp đón 165 người vào ngày 5 tháng 3 và cam kết sẽ tiếp tục đưa vấn đề nhân quyền trong vòng đối thoại với chính phủ Việt Nam. Công văn hồi âm ghi nhận rằng: Trong khi chúng tôi tiếp tục các cuộc đối thoại với phía Việt Nam, chúng tôi đặc biệt ý thức rất rõ lập trường của cộng đồng người Việt tại Mỹ.[15] Posner còn nhấn mạnh chính phủ Hoa Kỳ muốn tiếp tục trao đổi ý kiến với cộng đồng người Mỹ gốc Việt.[16][17]

Vận động tham chính[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người Mỹ gốc Việt đã tham gia vào các hoạt động chính trị tại địa phương và được bầu hay bổ nhiệm vào các chức vụ như Đinh Đồng Phụng Việt, trợ lý Bộ trưởng Tư pháp dưới chính phủ của Tổng thống George W. Bush; Cao Quang Ánh, dân biểu liên bang; Trần Thái Văn, dân biểu tiểu bang California; Janet Nguyễn, giám sát viên Quận Cam; Madison Nguyễn, thành viên hội đồng thành phố San Jose, v.v. Phần lớn các vận động chính trị của cộng đồng người Mỹ gốc Việt qua các cơ quan công quyền vẫn còn lấy chủ nghĩa chống cộng làm trọng tâm. Đáng kể là chuỗi biểu tình 52 ngày chống việc treo cờ đỏ sao vàng và hình của Hồ Chí Minh đầu năm 1999 lôi kéo 15.000 người xuống đường. Sau cuộc tổng tuyển cử năm 2008, thành phố Westminster trở thành thành phố đầu tiên có đa số thành viên trong hội đồng thành phố là người gốc Việt[18].

Xe hoa của cộng đồng Việt tại Lễ hoa hồng Portland 2009

Năm 2003, Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ (Vietnam War Memorial) đã được xây dựng tại Westminster để vinh danh các chiến sĩ Việt Nam Cộng hòaHoa Kỳ đã hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam.

Tháng 5 năm 2004, hội đồng thành phố Garden Grove, tiểu bang California nhất thể bỏ phiếu thành lập khu vực "cấm người cộng sản" (No Communist zone) với chủ ý ngăn không cho các phái đoàn nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công du vào vùng Little Saigon. Nếu muốn vào, luật thành phố đòi hỏi phái đoàn báo phải trước 14 ngày để cảnh sát lo an ninh nhưng cũng là thời gian để cộng đồng tổ chức biểu tình chống phái đoàn.[19]

Trong những tháng sau Bão Katrina, cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại New Orleans, một trong những nhóm người đầu tiên trở lại thành phố, đã vận động chống đối việc thiết lập một bãi rác để chứa các mãnh vụn gần nơi cộng đồng sinh sống.[20] Sau nhiều tháng giằng co, bãi rác được đóng cửa, và cộng đồng người Việt xem đây là một chiến thắng, và cộng đồng người Mỹ gốc Việt trở thành một thế lực chính trị tại đây.[21][22] Năm 2008, luật sư Joseph Cao Quang Ánh, một nhà hoạt động trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại New Orleans, thắng cử ghế dân biểu thứ 2 của Louisiana trong Hạ viện, trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên được bầu vào Quốc hội Hoa Kỳ.[23]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Một số văn phòng thương mại của người Mỹ gốc Việt tại Little Saigon

Theo điều tra năm 2007, 64,9% người Mỹ gốc Việt lớn tuổi hơn 16 có thể tham gia lực lượng lao động, với tỷ lệ thất nghiệp là 5,4%, thấp hơn so với tỷ lệ thất nghiệp của người Mỹ nói chung là 6,3%.[1] 59,3% phụ nữ đủ tuổi tham gia lực lượng lao động, với tỷ lệ thất nghiệp là 4,9%.

31,5% người Mỹ gốc Việt làm nghề quản trị, nghề chuyên nghiệp, hay các công việc liên quan, thấp hơn tỷ lệ 34,6% cho người Mỹ nói chung. 24,9% theo ngành phục vụ, cao hơn người Mỹ nói chung là 16,7%. 18,4% làm việc công việc sản xuất hay vận tải, 18,4% làm việc văn phòng hay buôn bán, 6,1% theo ngành xây dựng, duy trì, hay sửa chửa, và 0,4% theo nông nghiệp, ngư nghiệp, hay lâm nghiệp.[1] 82% người Mỹ gốc Việt làm cho các hãng tư nhân, 9,2% làm việc cho nhà nước, và 8,5% tự làm việc cho mình.

Mỗi gia đình có thu nhập điểm giữa là 59.831 USD, thấp hơn so với thu nhập một gia đình người Mỹ là 61.173 USD. Mỗi gia đình người Mỹ gốc Việt có trung bình 3,8 người, cao hơn số trung bình cho người Mỹ nói chung là 3,2 người. Bình quân mỗi người có thu nhập là 22.074, thấp hơn so với người Mỹ nói chung.[1] 13,1% người Mỹ gốc Việt được xem là có lợi tức thấp.

67,3% người Mỹ gốc Việt sống tại nhà do họ sở hữu, trong khi 32,7% sống trong nhà họ thuê.

Tại một số lĩnh vực, người Việt chiếm lĩnh thị trường. Khoảng 80% thợ móng ở California và 43% toàn quốc là người Mỹ gốc Việt.[24] Tại vùng vịnh Mexico, người Mỹ gốc Việt chiếm từ 1/3 đến một nửa các công việc ngư nghiệp.[25] Vụ tràn dầu Deepwater Horizon năm 2010 đã ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đối với các ngư dân gốc Việt tại đây.

Văn hóa và tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Quang Minh, một cơ sở thờ tự Phật giáo người Mỹ gốc Việt ở Chicago
Hành hương Thiên Chúa giáo tại Đại hội Thánh Mẫu, Missouri

Những sinh hoạt cộng đồng nhằm góp phần lưu giữ gốc Việt và văn hóa Việt được tổ chức thường xuyên; như giải Phượng Hoàng được tổ chức hàng năm để tuyển lựa tài năng cổ nhạc.[26] Và những trung tâm dạy Việt ngữ được mở ra khắp nơi. Tính đến năm 2008, chỉ riêng ở vùng Nam California, có tới hơn 80 trung tâm Việt Ngữ, đang tiếp nhận khoảng 17.000 học sinh theo học.[27]

Cũng vì sự vận động của cộng đồng gốc Việt, ngày 12 Tháng Tám năm 2009 Hội đồng thành phố Westminster, CA thông qua nghị quyết 4257 công nhận ngày Thứ Bảy cuối cùng mỗi Tháng Tư sẽ là "Ngày Thuyền nhân Việt Nam".[28] Ở cấp tiểu bang thì California thông qua nghị quyết ACR-40 công bố Tháng Tư 2011 là tháng của người Mỹ gốc Việt với 6 điểm ghi nhận:[29]

  1. Hành trình tỵ nạn của người Việt từ năm 1975
  2. Hội nhập và đóng góp giá trị của cộng đồng
  3. Nỗ lực tranh đấu vì lý tưởng tự do
  4. Khẳng định lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của cộng đồng người Mỹ gốc Việt
  5. Công nhận tuần lễ 24-30 Tháng Tư là "Tuần tưởng niệm Tháng Tư Ðen"
  6. Công nhận Tháng Tư, 2011 là tháng tuyên dương cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại California.

Sinh hoạt các tôn giáo cũng phong phú và đa dạng, nhiều chùa Phật giáo và giáo xứ Công giáo được xây dựng khắp nơi. Từ năm 1978, Đại Hội Thánh Mẫu của người Công giáo tổ chức hàng năm vào mùa hè tại Carthage, Missouri quy tụ khoảng 60 hay 70 ngàn người hành hương mỗi kỳ [30].

Sinh hoạt cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên Tổng hội Sinh viên Việt Nam Miền Nam California diễn hành trước Hội chợ Tết tại Little Saigon, Quận Cam, California

Người Việt tại Mỹ thường sống quây quần và có những sinh hoạt cộng đồng thường xuyên. Nhiều đoàn thể, hội ái hữu, hội đồng hương,.... và các tổ chức Hướng đạo Việt Nam, Gia đình Phật tử, Thiếu nhi Thánh Thể được thành lập khắp nơi.

Hàng năm, vào ngày Tết Nguyên Đán, đều có các cuộc diễn hành tết của cộng đổng người Việt tại khắp nơi, lớn nhất là tại San Jose do Hội Diễn hành Xuân (Vietnamese Spring Festival) tổ chức, với sự kết hợp của nhiều hội đoàn, tổ chức [31]. Tại Garden Grove, trường Bolsa Grande High School hiện nay là địa điểm tổ chức Hội Tết Việt Nam hằng năm, với hàng trăm ngàn người tham dự, và do Tổng hội Sinh viên Việt Nam Nam Cali (UVSA) tổ chức liên tục từ năm 1982 đến nay [32][33]. Từ năm 2003, Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế (Vietnamese International Film Festival - ViFF) là một đại hội điện ảnh diễn ra hai năm một lần tại Đại học California tại Irvine và nhiều địa điểm quanh vùng Little Saigon của Quận Cam.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d “2007 American Community Survey: Selected Population Profile in the United States”. United States Census Bureau. 
  2. ^ Chỉ tính người Việt không, không kể những người đa chủng tộc
  3. ^ a ă Cộng sản, cộng đồng...
  4. ^ SarDesai, DR. Vietnam, Past and Present. Los Angeles, CA: Westview Press, 2005. Trang 217.
  5. ^ Outdoor refugee monument at a ceremony
  6. ^ Alicia J. Campi. “From Refugees to Americans: Thirty Years of Vietnamese Immigration to the United States”. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2007. 
  7. ^ a ă â Jacob L. Vigdor (tháng 5 năm 2008). “Measuring Immigrant Assimilation in the United States”. Manhattan Institute. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2008. 
  8. ^ Collet, Christian (26 tháng 5, 2000). "The Determinants of Vietnamese American Political Participation: Findings from the January 2000 Orange County Register Poll" 2000 Annual Meeting of the Association of Asian American. 
  9. ^ Ong, Nhu-Ngoc T.; Meyer, David S. (1 tháng 4 năm 2014), “Protest and Political Incorporation: Vietnamese American Protests, 1975-2001”, Center for the Study of Democracy 04 (08) 
  10. ^ Nancy Wride và Harrison Sheppard (27 tháng 2 năm 1999). “Little Saigon Vigil Protests Vietnam Human Rights Violations”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2009. 
  11. ^ My-Thuan Tran and Christian Berthelsen (29 tháng 2 năm 2008). “Leaning left in Little Saigon”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2008. 
  12. ^ “OC Blog: Post-Election Spinning”.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessed= (gợi ý |accessdate=) (trợ giúp)
  13. ^ a ă Jane Junn, Taeku Lee, S. Karthick Ramakrishnan, Janelle Wong (6 tháng 10 năm 2008). “National Asian American Survey: Asian Americans and the 2008 Election”. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2008. 
  14. ^ Stephanie Ebbert (April 26, 2005). “Asian-Americans step up to ballot box”. The Boston Globe. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2007. 
  15. ^ "Mỹ không bỏ qua vấn đề nhân quyền VN" theo BBC
  16. ^ Bộ Ngoại giao Mỹ trả lời 150.000 thỉnh nguyện thư nhân quyền
  17. ^ “STOP EXPANDING TRADE WITH VIETNAM AT THE EXPENSE OF HUMAN RIGHTS”.  Đã bỏ qua tham số không rõ |pubisher= (trợ giúp)
  18. ^ My-Thuan Tran (2 tháng 12 năm 2008). “Orange County's final vote tally puts 2 Vietnamese Americans in winners' seats”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2008. 
  19. ^ http://www.thefreelibrary.com/California+city+becomes+1st+U.S.+%22no+Communist+zone%22-a0119114019
  20. ^ Leslie Eaton (6 tháng 5 năm 2006). “A New Landfill in New Orleans Sets Off a Battle”. The New York Times. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2008. 
  21. ^ (tiếng Anh) Michael Kunzelman (31 tháng 10 năm 2007). “After Katrina, Vietnamese become political force in New Orleans”. Associated Press. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2008. 
  22. ^ S. Leo Chiang (28 tháng 8 năm 2008). “New Orleans: A Village Called Versailles: After tragedy, a community finds its political voice”. Public Broadcasting Service. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2008. 
  23. ^ Associated Press (7 tháng 12 năm 2008). “Indicted Louisiana Rep. William J. Jefferson loses reelection bid”. The Los Angeles Times. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2008. 
  24. ^ My-Thuan Tran (5 tháng 5 năm 2008). “Vietnamese nail down the U.S. manicure business”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  25. ^ Mike Di Paola (17 tháng 8 năm 2010). “Oil Mess Leaves Gulf Vietnamese Jobless, Prey to Scams”. Bloomberg. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2011. 
  26. ^ Mùa Thi Giải Phượng Hoàng
  27. ^ Các Trung Tâm Việt Ngữ: Chỉ Tồn Tại Hay Sẽ Phát Triển?
  28. ^ "Thị xã Westminster ra nghị quyết ngày Thuyền nhân Việt Nam". Khởi Hành năm xiii, số 155, Tháng Chín 2009. Midway City, CA. tr 3
  29. ^ "Tháng người Mỹ gốc Việt" theo Người Việt
  30. ^ Khách Hành Hương Bắt Đầu Kéo Đến Tham Dự Đại Hội Thánh Mẫu Tại Missouri
  31. ^ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI ĂN TẾT
  32. ^ Hội Tết Sinh Viên của Tổng Hội SVVN Nam Cali
  33. ^ Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam - Nam California tổ chức họp báo Hội Chợ Tết Xuân Kỷ Sửu – 2009 "Xuân Hy Vọng"

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]