Người Campuchia gốc Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Campuchia gốc Việt
Vietnamese-floating-village-siem reap floating village1.jpg
Một làng nổi người Việt tại Siem Reap, Campuchia
Tổng số dân
khoảng 600.000 (5% dân số) [1]
Khu vực có số dân đáng kể
Ngôn ngữ
Tiếng Việt, Khmer, khác
Tôn giáo
Phật giáo Đại thừa, Cao Đài, Công giáo
Dân tộc thiểu số có liên quan
người Việt

Người Campuchia gốc Việt (tiếng Khmer: Yuon) là nhóm người sinh sống tại Campuchia nhưng về mặt huyết thống, xuất phát từ Việt Nam.

Cộng đồng người Campuchia gốc Việt là dân tộc thiểu số lớn nhất tại Campuchia. Mặc dù có những tranh chấp sâu đậm giữa hai dân tộc KhmerViệt trải dài qua mấy thế kỷ nhưng trên đất nước Campuchia hai nhóm vẫn chung sống cận kề nhau.

Thái độ của dân bản xứ đối với người gốc Việt[sửa | sửa mã nguồn]

So với hai cộng đồng thiểu số người gốc Hoa hay gốc Thái ở Campuchia thì dân Khmer nói chung không có thiện cảm với người thiểu số gốc Việt. Nhiều sự kiện lịch sử đã góp phần tạo nên mối nghi kỵ nếu không nói là hiềm thù dai dẳng giữa hai dân tộc Khmer-Việt. Trong khi người Việt coi cuộc Nam tiến là mở mang bờ cõi đất nước thì người Khmer coi đó là sự mất mát sâu đậm cho dân tộc họ mang đến hậu quả tai hại là xứ Thủy Chân Lạp bao gồm đồng bằng sông Cửu Long bị người Việt chiếm đoạt. Trái lại, đối với Thái Lan tuy có thời cũng chiếm đóng và đô hộ Campuchia nhưng lãnh thổ và biên cương Campuchia tương đối được giữ nguyên vẹn. Ngoài ra về mặt văn hóatôn giáo thì cũng có nhiều dị biệt giữa người Khmer và người Việt tạo thêm nhiều ngăn cách. Tựu trung thì trong khi Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa và học thuật Trung Hoa, còn Campuchia và Thái Lan tiếp thu văn hóa Ấn Độ cùng Phật giáo Nam tông làm nền tảng xã hội nên có nhiều điểm tương đồng hơn.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Người Campuchia gốc Việt tập trung ở những đô thị như Phnôm Pênh song một số đáng kể sống dọc theo sông Mê Kông, sông Bassac và vùng Biển Hồ mưu sinh bằng nghề chài lưới. Dưới thời Pháp thuộc, phần lớn phu phen trong các đồn điền cao su của Pháp là người Việt được mộ sang làm lao công. Người Việt cũng là thành phần công chức cấp dưới trong chính quyền thuộc địa Đông Pháp cùng những tư chức trong các hãng xưởng.[2]

Theo ước tính của học giả người Mỹ Donald J. Steinberg thì vào thời điểm năm 1950 có 291,596 người Việt (chiếm hơn 7% tổng dân số Campuchia) sinh sống trên đất Campuchia. Họ tập trung ở Phnôm Pênh và các tỉnh miền đông như Prey Veng, Kandal, Kampong Cham[2]Kampong Chhnang.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu người Việt tại Cao Miên
Năm Dân số
1874 4452[4]
1911 79.050[4]
1921 140.225[4]
1936 191.000[4]
1950 319.596[5]
1965 400.000-450.000[5]
1975 30.000[6]
1979 300.000[6]
1981 500.000[6]

Trước thế kỷ 19[sửa | sửa mã nguồn]

Thư tịch cổ ghi rằng người Việt và người Khmer đã có tiếp xúc từ thế kỷ 13. Sau khi Champa bị Đại Việt thôn tính thì dân Việt tiến vào đến đồng bằng sông Cửu Long thuộc Thủy Chân Lạp. Từ khoảng giữa thế kỷ 17 trở đi Chân Lạp suy yếu vì nội chiến và xâm lược của Xiêm, các chúa Nguyễn đã dùng nhiều cách như hôn nhân chính trị, áp lực ngoại giao cùng thế mạnh quân sự, để dần sáp nhập vùng đồng bằng sông Cửu Long vào xứ Đàng Trong, đặt ra phủ Gia Định. Cùng lúc đó, đội quân của chúa Nguyễn cũng đụng độ với quân Xiêm để tranh giành ảnh hưởng lên đất Chân Lạp.

Thời nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Sang thế kỷ 19, nhà Nguyễn dưới triều vua Thánh Tổ đã sáp nhập toàn lãnh thổ Campuchia, gọi là Trấn Tây Thành vào Đại Nam. Mọi thể chế từ việc cai trị đến phong tục đều có lệnh thay đổi hầu đồng hóa nước Campuchia. Trong triều thì vương tôn sĩ thứ Campuchia phải cải trang theo người Việt. Đối với dân chúng Miên thì không những nền độc lập chính trị của Campuchia bị đe dọa mà cả sự tồn vong của dân tộc Campuchia bị lâm nguy nên dân Miên nổi lên chống lại, lại có thêm triều đình Xiêm hậu thuẫn nên quan quân nhà Nguyễn phải rút khỏi Campuchia sau mấy năm chinh chiến , bỏ phép trực trị mà chấp nhận lệ triều cống như cũ.

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Đến giữa thế kỷ 19 thì Pháp xâm lăng rồi chiếm đất Nam Kỳ. Người Pháp sau đó thuyết phục Miên vương chấp nhận chế độ bảo hộ của Pháp trên đất nước Campuchia. Dù vậy, ảnh hưởng của người Việt ở Campuchia thay vì thuyên giảm dưới sự can thiệp của Pháp, lại càng tăng khi chính quyền bảo hộ thường tuyển mộ dùng người Việt, một số theo Công giáo, làm nhân sự cho guồng máy cai trị. Người Pháp cũng đưa công nhân người Việt sang làm phu đồn điền cao su ở Campuchia.

Năm 1874 khi người Pháp mở cuộc điều tra dân số tại campuchia thì có 4.452 người Việt trên tổng số 746.424 dân cư. Đến năm 1911 thì có 79.050 và năm 1921 thì tăng lên là 140.225 người gốc Việt. Riêng tại thủ đo Nam Vang thì có 18.990 người gốc Việt, chiếm 61% dân số thủ đô.[4]

Sang năm 1936 chính phủ bảo hộ ghi nhận có 191.000 người Việt sinh sống trên đất Campuchia..[4]

Vương quốc Cao Miên 1953-70[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm của các chính quyền Campuchia đối với thiểu số người dân gốc Việt bị chi phối bởi quan hệ ngoại giao với cả hai chính thể miền BắcMiền Nam Việt Nam và địa vị Campuchia trong cán cân chiến tranh Việt Nam.

Dưới thời vua Sihanouk, dân gốc Việt bị liệt là ngoại kiều. Người Campuchia theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan thì xem người Việt thiểu số là đặc công thi hành âm mưu thôn tính Campuchia của Việt Nam. Chính quyền cũng ra chính sách cấm đoán và ngược đãi người gốc Việt, ép họ phải nhập tịch.[6]

Cộng hòa Cao Miên 1970-75[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Sihanouk bị truất phế, người Việt thiểu số lại bị hai chế độ Cộng hòa Cao Miên của Lon Nol (1970-1975) và Cộng hòa Nhân dân Campuchia của Pol Pot (1975-1979) ra tay sát hại. Ngay sau cuộc đảo chính chống lật đổ Sihanouk của Lon Nol, chính quyền mở nhiều đợt tàn sát hàng nghìn người Việt diễn ra ngay ở Phnôm Pênh. Lon Nol còn ban luật chỉ cho phép người gốc Việt đi lại từ 7 giờ sáng đến 11 giờ sáng, cùng cấm đoán người Việt làm một số nghề phổ thông, khiến sinh hoạt của cộng đồng người Việt bị tê liệt.[6] Lon Nol còn ra lệnh thiết lập một số trại tập trung cho người dân gốc Việt, giam giữ hơn 30.000 người. Con số này sau tăng lên đến 90.000. Họ bị ép hồi hương. Tính đến Tháng Tám, 1971 có hơn 250.000 người đã bỏ Campuchia về Việt Nam Cộng hòa.[6] Dân số người Việt ở Nam Vang, một thời lên đến 350.000 (50% cư dân Nam Vang), tụt xuống chỉ còn khoảng 30.000.[7] Một số bị giết hại, hàng trăm xác, có thể lên đến 3.000-4.000[8] thả trôi sông xuôi dòng Bassac về Việt Nam. Sau vì áp lực quốc tế, Lon Nol chấp nhận để Hải quân Việt Nam Cộng hòa đưa tàu lên đón số người bị giam giữ hồi hương.[9] Tính đến năm 1975, ước tính là 400.000 người Việt đã rời Cao Miên về Việt Nam, còn lại chỉ khoảng 200.000.[10]

Cộng hòa Dân chủ Campuchia 1975-79 & Cộng hòa Nhân dân Campuchia 1979-92[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1975 Khmer Đỏ lên nắm quyền ở Phnom Penh. Campuchia và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mặc dù chung ý thức hệ vì cùng là cộng sản nhưng lại có nhiều tranh chấp sâu đậm. Rạn nứt tiến từ xung đột biên giới đến chiến tranh quy mô; hai nước huy động toàn bộ quân đội đốc chiến. Khoảng 170.000 người Việt ở Campuchia bị Khmer Đỏ lùa sang biên giới đuổi về Việt Nam. Số còn lại khoảng 30.000, phần bị giết, bị bệnh và chết đói; có thể nói cộng đồng người Việt ở Campuchia bị triệt hạ hoàn toàn.[6]

Trong thời gian Việt Nam chiếm đóng, số người Việt ở Campuchia lại hồi phục dần. Tuy nhiên thường dân gốc Việt vẫn là mục tiêu giết hại khiến hơn 21.000 người gốc Việt phải bỏ Campuchia về lại Việt Nam.

Vương quốc Campuchia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1993 qua trung gian Liên hiệp quốc chính quyền chuyển tiếp Campuchia (United Nations Transitional Authority in Cambodia) tổ chức tổng tuyển cử, cho phục hồi vương triều Campuchia và đổi quốc hiệuVương quốc Campuchia. Sôi động chính trị Campuchia sau đó lại châm ngòi nổ ra mấy đợt tàn sát dân gốc Việt khiến 25.000-40.000 người vượt biên giới lánh nạn ở Việt Nam, tập trung ở hai tỉnh An GiangĐồng Tháp.[11]

Tình trạng người dân gốc Việt vào thế kỷ 21 vẫn còn nhiều khó khăn. Cho dù đã sinh sống trên đất Campuchia nhiều đời, luật pháp vẫn cấm không cấp cho họ giấy tờ tùy thân, không cho sở hữu ruộng đất, khiến họ chỉ mỗi có nghề chài để sinh nhai. Khoảng 90% dân gốc Việt sinh sống cuộc đời trôi nổi trên xuồng bè sông nước.[12] Kết quả là trẻ con không được ghi danh nhập học, không được đi thi, người lớn thì không có quyền bỏ phiếu. Trong đợt tuyển cử năm 2013, người gốc Việt bị uy hiếp, ngăn cản không được đến phòng phiếu.[13] Họ còn bị nhà chức trách địa phương sách nhiễu, bắt bớ làm tiền mà không có cách nào khiếu nại.

Trước năm 1996, trẻ em thuộc gia đình có một phụ huynh sinh trên đất Miên có thể ghi danh chính thức để nhập học nhưng sau đó luật pháp thay đổi, đòi hỏi cả hai cha mẹ phải chứng minh đã sinh ra trên đất Miên và có quyền cư trú hợp pháp thì con em mới được đi học, khiến giới trẻ gốc Việt không thể hội nhập xã hội Campuchia.[14]

Phe đối lập của Sam Rainsy thường lấy lập trường bài Việt để kích động cử tri dồn phiếu cho đảng mỗi khi bầu cử.[15]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hai ngôn ngữ ViệtKhmer đều thuộc ngữ tộc Môn-Khmer. Dù vậy dân gốc Việt không hội nhập hài hòa như người Chăm hay người Hoa, phần vì khác biệt văn hóa giữa 2 dân tộc. Ngày nay, vì tỉ lệ thất nghiệp cao ở Việt Nam mà nhiều người Việt sang Campuchia tìm kiếm việc làm, trong khi nhiều người khác tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn dù chỉ một số ít đạt được ý muốn. Sau 10 năm Việt Nam đóng quân trên đất Campuchia, nhiều người Campuchia có thái độ nghi ngờ và căm ghét người Việt. Hôn nhân giữa người Việt và người Khmer cũng ít diễn ra so với giữa người Khmer và người Hoa. Mặc dù sống rải rác khắp Campuchia, người Việt cũng tập trung đông đúc tại các trung tâm đô thị; số khác tham gia làm nông nghiệp hoặc nghề chài lưới truyền thống, họ sống trong những làng nổi. Người Việt Nam ăn Tết Nguyên Đán vào khoảng tháng Giêng hay tháng hai, đây cũng là một trong những ngày lễ quan trọng nhất ở Campuchia. Họ cũng đem sang đây đạo Cao Đài, một tôn giáo lớn ở Việt Nam.

Đối với Giáo hội Công giáo ở Campuchia thì cộng đồng gốc Việt là nòng cốt. Người gốc Việt chiếm đại đa số giáo dân Công giáo ở Campuchia. Khi chính quyền Nam Vang ra chính sách truy nã người Việt vào thập niên 1970 thì cộng đồng giáo dân coi như bị tiêu diệt, và chỉ khôi phục lại vào đầu thập niên 1990 với một nhóm người Khmer. Ước đoán vào năm 2013 thì số giáo dân gốc Việt nay lại tăng dần, chiếm khoảng 2/3 giáo dân Công giáo ở Campuchia.[16]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng Dung. Cuộc chiến Việt-Hoa-Miên 1979-1989. Falls Church, VA: Tiếng Quê Hương, 2013.
  • Wain, Barry. The Refused'. New York: Simon and Schuster, 1981.