Kim Dae-jung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kim Dae-jung
Kim Dae-jung (Cropped).png
Chức vụ
Tổng thống thứ 8 của Đại Hàn Dân Quốc
Nhiệm kỳ 25 tháng 2 năm 1998 – 25 tháng 2 năm 2003
Tiền nhiệm Kim Yeong-sam
Kế nhiệm Roh Moo-hyun
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Dân chủ Thiên niên kỷ (nay là Đảng Dân chủ Thống nhất
Sinh 3 tháng 12, 1925(1925-12-03)[1]
Haui-do, Sinan, Jeollanam-do, Triều Tiên thuộc Nhật
(nay là Haui-do, Hàn Quốc)
Mất 18 tháng 8, 2009 (83 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Tôn giáo Công giáo
Chữ ký Kim Dae-jung signature.png
Giải Nobel Hòa bình (2000)
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.
Kim Tê Chung
Hangul 김대중
Hanja (Hán tự) 金大中
Hán-Việt Kim Đại Trung
Romaja quốc ngữ Gim Daejung
McCune-Reischauer Kim Taejung
Tên hiệu
Hangul 후광
Hanja 後廣
Romaja quốc ngữ Hugwang[2]
McCune-Reischauer Hugwang

Kim Dae-jung (tiếng Triều Tiên: 김대중, Hán-Việt: Kim Đại Trung; 3 tháng 12 năm 1925 - 18 tháng 8 năm 2009)[3] là tổng thống thứ 8 của Hàn Quốc từ 1998 đến 2003, chủ nhân giải Nobel Hòa bình năm 2000. Ông được gọi là "Nelson Mandela của châu Á"[4][5] bởi đã dành phần lớn cuộc đời hoạt động chính trị nhằm đấu tranh chống chế độ độc tài cũng như Chính sách Ánh dương ông áp dụng đối với Bắc Triều Tiên.

Tuổi trẻ và đấu tranh chống độc tài quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Các văn bản chính thức ghi ngày sinh của Kim Dae-jung là 3 tháng 12 năm 1925, tuy nhiên có nguồn cho rằng ngày sinh thực là 6 tháng 1 năm 1924, chính Kim đã đổi để tránh bị cưỡng bức tòng quân trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Hàn Quốc[1]. Ông sinh ra ở huyện Sinan, thuộc tỉnh Jeolla, nay là Jeolla Nam. Kim tốt nghiệp trường Trung cấp Kinh doanh Mokpo năm 1943 với thành tích xuất sắc. Sau khi làm thư kí cho một công ty hàng hải của Nhật, ông trở thành chủ công ty và trở nên giàu có. Ông đào thoát khỏi sự xâm lược của Bắc Hàn trong Chiến tranh Triều Tiên[6].

Kim bắt đầu tham gia chính trường từ năm 1954, dưới thời tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc Lý Thừa Vãn. Ông đắc cử ghế nghị sĩ tại Quốc hội năm 1961, nhưng kết quả bầu cử bị một cuộc đảo chính quân sự do Park Chung Hee (tức Phác Chính Hy) lãnh đạo[6]. Tuy nhiên ông liên tiếp đắc cử các cuộc bầu cử nghị viện năm 1963 và 1967, dần trở thành lãnh tụ phái đối lập. Do đó, ông được phái đối lập đưa ra tranh cử trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1971. Ông gần như đã có thể đánh bại Park, người đoạt được thắng lợi cuối cùng bằng một chiến dịch truyền thông đầy thiên vị[7]. Tuy vậy Kim đã tỏ ra ảnh hưởng mạnh mẽ; đặc biệt ở vùng Jeolla ông nhận được tới 95% phiếu phổ thông, một kỷ lục hiện vẫn chưa bị phá ở Hàn Quốc.

Kim bị một tai nạn xe hơi nghiêm trọng sau cuộc bầu cử, mà dường như là một vụ tấn công có chủ đích (để lại thương tật vĩnh viễn cho ông ở hông). Do đó ông phải rời nước để sang Nhật, nơi ông tiếp tục lãnh đạo phong trào dân chủ chống độc tài, vốn trở nên càng mạnh mẽ bởi Hiến pháp Duy Tân năm 1972 của Park nhằm thâu tóm quyền lực độc tài. Ngày 8 tháng 8 năm 1973, sau một cuộc họp với lãnh đạo Đảng Dân chủ Thống Nhất tại Khách sạn Grand Palace ở Tokyo, ông bị một nhóm đặc vụ Hàn Quốc bắt cóc và dự định thủ tiêu nhưng sau đó đã được thả ra, điều mà về sau ông còn nhắc lại trong diễn văn nhận giải Nobel[8].

Sau đó, ông quyết định trở về Seoul, nhưng chính quyền quân sự cấm ông hoạt động chính trị và năm 1976 đã bắt giam, kết án ông 5 năm tù vì tham gia một quốc biểu tình chống chính quyền[7], từ năm 1978 án giảm xuống thành quản thúc tại gia dưới sức ép của cộng đồng quốc tế. Tổ chức Ân xá Quốc tế đã gọi ông là một "tù nhân lương tâm"[9].

Sau vụ ám sát Park Chung Hee năm 1979, Kim được trao trả tự do hoàn toàn. Nhưng chỉ một năm sau, 1980, Chun Doo-hwan tiến hành đảo chính và sau đó đàn áp dã man Phong trào dân chủ Gwangju. Trong làn sóng bắt bớ thanh trừng sau đó, ông bị tuyên án tử hình với tội nổi loạn và gián điệp[10]. Nhiều tổ chức nhân quyền và quốc gia dân chủ đã vận động bãi bỏ án quyết này, trong đó Giáo hoàng Gioan Phaolô II có gửi thư cho Chun xin ân xá cho Kim[11]. Trong lúc sắp bị hành hình (bằng cách bị trói đưa lên trực thăng và quăng xuống biển), sự can thiệp muộn màng nhưng hữu ích của chính phủ Hoa Kỳ đã tỏ ra hiệu quả: án quyết giảm xuống còn 20 năm tù, và về sau trở thành trục xuất sang Hoa Kỳ. Kim Dae-jung sang cư trú tại Boston và giảng dạy với tư cách giáo sư thỉnh giảng ở Trung tâm Sự vụ Quốc tế của Đại học Harvard[12]. Trong thời kỳ này ông đã viết nhiều bài chỉ trích chính quyền quân sự trên các tạp chí uy tín. Vào năm 1985, ông quyết định trở về quê hương[13].

Xây dựng nền dân chủ mới[sửa | sửa mã nguồn]

Trở lại Seoul, Kim lập tức đối mặt với lệnh quản thúc, nhưng tiếp tục đóng vai trò lãnh đạo phe đối lập. Năm 1987, Chun Doo-hwan nhìn nhận sự phản đối độc tài của người dân, đồng ý từ chức và tổ chức cuộc bầu cử tổng thống công bằng đầu tiên ở Hàn Quốc. Phe đối lập đã không tìm được tiếng nói thống nhất, số phiếu của họ bị phân chia giữa Kim Dae-jung (27%) và Kim Young-sam (28%), khiến cho ứng viên Roh Tae-woo - một cựu tướng lĩnh được Chun đỡ đầu - chiến thắng chỉ với 36.5 % phiếu phổ thông.

Năm 1992, ông lại một lần nữa thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống, lần này là cuộc đối đầu trực tiếp với Kim Young-sam, người sáp nhập đảng của mình với Đảng Dân chủ Công lý đương quyền để lập nên Đảng Đại Dân tộc[6]. Nhiều người tin rằng sự nghiệp chính trị của Kim Dae-jung đã kết thúc khi ông rời bỏ chính trường, sang Anh và nhận một vị trí tại Clare Hall thuộc Đại học Cambridge[14]. Tuy nhiên, năm 1995 ông đã tuyên bố quay lại và tham gia vào cuộc bầu cử tổng thống lần thứ tư của mình.

Và lần này, tình thế có phần thuận lợi hơn cho ông khi công chúng đang phản đối chính sách của chính phủ trong việc vực dậy nền kinh tế khỏi cú sốc của cuộc Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 bùng nổ chỉ ít ngày trước ngày bầu cử. Kết quả là trong cuộc bầu cử ngày 18 tháng 12 năm 1997, liên danh với ứng viên phó tổng thống Kim Jong-pil ông đã đánh bại Lee Hoi-chang-ứng cử viên được Kim Young-sam hậu thuẫn. Thắng lợi ông cũng đến một phần từ sự chia rẽ của đảng đối lập, cho phép ông đắc cử với chỉ 40.3% phiếu phổ thông[15]. Ông tuyên thệ làm Tổng thống thứ 8 của Đại Hàn Dân Quốc ngày 25 tháng 2 năm 1998, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc một đảng cầm quyền chuyển giao quyền lực hòa bình cho người đối lập chiến thắng trong một cuộc bầu cử dân chủ[6][16]

Tổng thống Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đón tiếp Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton (bên trái) tại hội nghị APECAuckland, 12 tháng 12 năm 1999

Khi Kim Dae-jung mới nhậm chức, đã có những ngờ vực về khả năng điều hành của ông, người được biết tới như một nhà hoạt động dân chủ nhiều hơn là một nhà quản lý. Tuy nhiên ông đã tỏ ra xuất sắc trong vị trí của mình.

Đáp lại cú sốc của cuộc khủng hoảng tài chính (kinh tế tăng trưởng âm -5.8% năm 1998), Tổng thống Kim đã tiến hành những cuộc cải cách mạnh mẽ nhằm tái cấu trúc nền kinh tế[6]. Ông tìm cách giảm bớt những ưu đãi cho các chaebol (các tập đoàn lớn ở Hàn Quốc như Hyundai hay Samsung có quan hệ mật thiết chính quyền) trong khi tăng cường minh bạch tài chính. Năm 1999, nền kinh tế tăng trưởng trở lại 10.2 % và tiếp tục duy trì tốc độ những năm sau đó[4]. Ông cũng vận động để đưa thành luật dẫn đến sự hình thành chế độ phúc lợi xã hội đương đại ở Hàn Quốc[17][18]; trong nhiệm kỳ của ông Hàn Quốc đã đồng tổ chức (cùng với Nhật Bản) thành công World Cup 2002. Ông cũng tỏ ra khoan dung với những lãnh đạo của chế độ cũ đã từng bắt giữ và tuyên án tử hình mình.

Đối với Bắc Triều Tiên, chính quyền Kim Dae-jung thực hiện một đường lối ngoại giao mềm dẻo được biết dưới tên Chính sách Ánh dương. Trong khi lên án các hành động khiêu khích quân sự của Bình Nhưỡng, Hàn Quốc tuyên bố không có ý định tái chiếm miền Bắc bằng bất kỳ cách thức nào và tìm cách cường hợp tác giữa hai miền, tránh xung đột và chính trị hóa các sự vụ. Kết quả là các gia đình bị ly tán giữa hai miền đã có cuộc gặp gỡ hiếm hoi, các công ty Hàn Quốc được phép đầu tư có giới hạn ở miền gần biên giới hai nước và Hàn Quốc cũng như cộng đồng quốc tế có kênh tiếp cận cho mục đích viện trợ nhân đạo. Đỉnh điểm của chính sách này là hội nghị thượng định có tính lịch sử năm 2000 giữa Kim Dae-jung và lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong-il[19]. Điều này đã giúp Kim Dae-jung nhận giải Nobel Hòa bình năm 2000, nhưng cũng có những chỉ trích rằng chính sách này đã che đậy các tội ác tàn bạo ở miền Bắc trong thời gian đó cũng như chuyển giao một khoản tiền lớn cho chính phủ Bình Nhưỡng nhằm đổi lấy thỏa thuận[20]. Năm 2003, Chánh văn phòng của Kim là Park Ji-won đã phải chịu án tù 12 năm với một số cáo buộc, trong đó có liên quan tới việc Hyundai trả tiền cho Hội nghị liên Triều[19].

Những năm cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Kim kêu gọi những biện phán ngăn chặn chống lại Bắc Triều Tiên để giải trừ vũ khí hạt nhân và bên cạnh đó bảo vệ cho chính sách Ánh dương của mình[21]. Ông nhận bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Portland ngày 17 tháng 4 năm 2008.

Kim Dae-jung mất ngày 18 tháng 8 năm 2009 tại Bệnh viện Đại học Yonsei ở Seoul. Nguyên nhân cái chết được cho là Hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan[22]. Một tang lễ liên tôn giáo cấp quốc gia được tổ chức cho ông vào ngày 23 tháng 8 trước tòa nhà Quốc hội, với đám rước đưa thi hài ông tới Nghĩa trang Quốc gia Seoul bằng nghi thức Công giáo. Ông là người thứ 3 trong lịch sử Hàn Quốc nhận nghi thức quốc tang[23]. Một điện tín do Wikileaks tiết lộ cho thấy Đại sứ quán Hoa Kỳ vào ngày ông mất đã mô tả ông là "tổng thống cánh tả đầu tiên của Nam Hàn"[24].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Obituary: Kim Dae-jung." BBC News. 18 August 2009. Retrieved 7 November 2009.
  2. ^ “Former South Korean President Kim Dae-jung Dies at 85”. Jakarta Globe. 18 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2009. 
  3. ^ Việt Nam tên ông thường được phiên âm là Kim Tê Chung
  4. ^ a ă “Kim Dae-jung: Dedicated to reconciliation”. CNN. 14 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2009. 
  5. ^ Kim Dae-jung, Ex-President of S. Korea, Dies at 83
  6. ^ a ă â b c “Kim Dae Jung”. Encyclopædia Britannica. 2009. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2009. 
  7. ^ a ă “Kim Dae-jung – Biography”. The Nobel Foundation. 2000. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2009. 
  8. ^ “Kim Dae-jung – Nobel Lecture”. The Nobel Foundation. 2000. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2012. 
  9. ^ “Kim Dae-jung, human rights champion and former South Korean president, dies”. Amnesty International. 19 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2012. 
  10. ^ Choe, Sang-hun (18 tháng 8 năm 2009). “Kim Dae-jung, 83, Ex-President of South Korea, Dies”. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2009. 
  11. ^ “John Paul II's appeal saved future Korean president from death sentence”. Catholic News Agency. 21 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012. 
  12. ^ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/08/090818_kim_daejung_dies.shtml
  13. ^ “Board of Advisors – Kim Dae-jung”. The Oxford Council on Good Governance. Undated. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2009. 
  14. ^ http://www.ames.cam.ac.uk/deas/korean/kim-dae-jung.html
  15. ^ “1997 South Korean Presidential Election”. University of California, Los Angeles – Center for East Asian Studies. 1998. 
  16. ^ “Opposition boycott shadows South Korea's new president”. CNN. 25 tháng 2 năm 1998. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2009. 
  17. ^ Takegawa, Shogo (tháng 12 năm 2005). “Japan's Welfare State Regime: Welfare Politics, Provider and Regulator”. Development and Society 34 (2): 169–190. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012. 
  18. ^ Muthu, Rajendran (2006). “Social Development in Japan: A Focus on Social Welfare Issues”. Journal of Societal & Social Policy 5 (1): 1–20. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012. 
  19. ^ a ă Ginsburg, Tom (2004). Legal Reform in Korea. Psychology Press. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012. 
  20. ^ Cathy Hong (18 tháng 11 năm 2003). “Fine Young Communists”. The Village Voice. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012. 
  21. ^ Sunny Lee (7 tháng 5 năm 2008). “South Korea's Sunshine policy strikes back”. Asia Times Online. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012. 
  22. ^ “Former S. Korean President Kim Dae-Jung Dies”. The Seoul Times. 18 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2009. 
  23. ^ Barbara Demick (19 tháng 8 năm 2009). “Kim Dae-jung dies at 85; former South Korean president and Nobel laureate”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2012. 
  24. ^ Lee (이), Seong-gi (성기) (6 tháng 9 năm 2011). “"DJ, 좌파 첫 대통령" 위키리크스 외교전문”. Hankook Ilbo (bằng tiếng Triều Tiên). Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]