USS Lexington (CV-2)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Lexington.jpg
Tàu sân bay USS Lexington (CV-2) đang rời cảng San Diego, California, ngày 14 tháng 10 năm 1941
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Đặt tên theo: trận Lexington
Đặt hàng: 1916 (như một tàu chiến-tuần dương)
1922 (như một tàu sân bay)
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Fore River
Đặt lườn: 8 tháng 1 năm 1921
Hạ thủy: 3 tháng 10 năm 1925
Đỡ đầu bởi: Theodore Douglas Robinson
Hoạt động: 14 tháng 12 năm 1927
Xếp lớp lại: 1 tháng 7 năm 1922 (tàu chiến-tuần dương thành tàu sân bay)
Xóa đăng bạ: 24 tháng 6 năm 1942
Biệt danh: "Gray Lady", "Lady Lex"
Danh hiệu và
phong tặng:
2 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị máy bay Nhật đánh trúng trong trận chiến biển Coral ngày 8 tháng 5 năm 1942; đánh đắm sau khi bỏ tàu.
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu sân bay Lexington
Trọng tải choán nước: 38.746 tấn (thiết kế)
50.000 tấn (sau khi tái cấu trúc)
Độ dài: 271 m (888 ft)
Sườn ngang: 32 m (106 ft)
Mớn nước: 7,4 m (24 ft 3 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước, 16 × nồi hơi với áp lực 300 psi, 4 × trục,
công suất thiết kế 180.000 mã lực (134 MW)
công suất thực tế 209.710 mã lực (156,4 MW)
Tốc độ: 61,6 km/h (33,25 knot) (thiết kế)
64,5 km/h (34,82 knot) (thực tế)
Tầm xa: 18.500 km ở tốc độ 18,5 km/h
(10.000 hải lý ở tốc độ 10 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
2.122
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Radar RCA CXAM-1[1]
Vũ trang: 4 × pháo 200 mm (8 inch)/55 caliber nòng kép; 12 × pháo 127 mm (5 inch) nòng đơn
Bọc giáp: Đai giáp 130-180 mm (5-7 inch)
Vỏ giáp sàn tàu thứ ba 51 mm (2 inch)
Vỏ giáp sàn đáp từ 76 mm (3 inch) đến 110 mm (4,5 inch) trên bánh lái
Máy bay mang theo: 91 (sau khi tái cấu trúc)

Chiếc USS Lexington (CV-2), có tên lóng là "Gray Lady" hoặc "Lady Lex", là một trong những tàu sân bay đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ. Tên nó được dùng để đặt cho lớp tàu sân bay Lexington, cho dù chiếc tàu em của nó là chiếc USS Saratoga (CV-3) được đưa vào hoạt động sớm hơn nó một tháng. Lexington là một trong những tàu sân bay chủ lực của Mỹ trong giai đoạn đầu của Thế Chiến II tại Mặt trận Thái Bình Dương, và đã bị máy bay Nhật đánh chìm trong Trận chiến biển Coral.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc Lexington là chiếc tàu chiến thứ tư trong lịch sử Hải quân Hoa Kỳ được mang tên USS Lexington, tên đặt theo trận Lexington diễn ra tại Lexington, Massachusetts trong cuộc chiến dành độc lập Mỹ năm 1775. Nó và chiếc tàu em của nó Saratoga, ban đầu được đặt hàng vào năm 1916 như là các tàu chiến-tuần dương, có trọng lượng rẽ nước 35.300 tấn với bảy nồi hơi và ống khói bố trí trên hai sàn. Sau Thế Chiến I, và với những bài học kinh nghiệm từ cuộc chiến này, đã có những cải tổ lớn được đưa ra vào năm 1919. Được đặt tên là CC-1 và CC-3, chúng được đặt lườn như những chiếc tàu chiến-tuần dương vào ngày 8 tháng 1 năm 1921 bởi xưởng đóng tàu Fore River tại Quincy, Massachusetts.

Tiếp theo sau Hiệp ước Hải quân Washington, cả hai được đặt lại tên và cải tạo để hoàn tất như là tàu sân bay vào ngày 1 tháng 7 năm 1922. Để được như vậy, trọng lượng rẽ nước phải giảm bớt 8.500 tấn, chủ yếu đạt được nhờ việc loại bỏ tám khẩu pháo 405 mm (16 in) trên bốn tháp súng đôi (bao gồm cả bệ súng, vỏ giáp...). Đai giáp chính được giữ lại, và vỏ giáp sàn tàu được tăng cường. Những đường nét chung của thân tàu được giữ lại, và hệ thống bảo vệ đặc biệt phần dưới nước cũng được gắn liền. Sàn đáp dài 244 m (880 ft) và rộng 25,9-27,4 m (85–90 ft), cao 18,3 m (60 ft) so với mực nước. Tầm nước chính là 7,4 m (24 ft 2 in). Chiếc LexingtonSaratoga được trang bị động cơ turbine điện với 16 nồi hơi Yarrow cung cấp động lực cho bốn turbine General Electric quay các máy phát điện để vận hành bốn động cơ chính chậm hơn. Động cơ của chiếc Lexington đã từng cung cấp điện cho thành phố Tacoma, Washington trong 30 ngày khi bị thiếu điện vào mùa Đông năm 1929/1930.

Thủy thủ đoàn của chiếc tàu gồm 169 sĩ quan và 1730 thủy thủ bao gầm các đội bay. Nó được trang bị tám pháo 55 203 mm (8 in), 12 pháo phòng không 25 127 mm (5 in),[2] và bốn khẩu 57 mm (2.24 in). Hai chiếc này là những chiếc tàu cuối cùng được trang bị máy phóng nằm ngang như là thiết kế ngay từ ban đầu. Máy phóng có hành trình di chuyển dài 47,2 m (155 ft) và đủ mạnh để phóng kiểu máy bay nặng nhất của hải quân vào thời đó trong quãng đường 18,3 m (60 ft). Vào lúc chế tạo, cả hai chiếc tàu đều có những cần trục để phóng và thu hồi những chiếc thủy phi cơ, một tính năng bị tháo bỏ trong chiến tranh và được thay bằng các khẩu pháo phòng không bổ sung. Chiếc tàu được thiết kế để chở được tối đa 120 máy bay các loại bao gồm máy bay tiêm kích, tuần tiểuném bom. Mỗi chiếc tàu trị giá 45 triệu Đôla Mỹ kể cả máy bay.

Chiếc Lexington được hạ thủy ngày 3 tháng 10 năm 1925, được đỡ đầu bởi Bà Theodore Douglas Robinson (phu nhân của Trợ lý Bộ trưởng Hải Quân), và được đưa vào hoạt động ngày 14 tháng 12 năm 1927 dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng Albert W. Marshall.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

1928-1941[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được trang bị và chạy thử, Lexington gia nhập Hạm đội Tàu chiến tại San Pedro, California vào ngày 7 tháng 4 năm 1928. Đặt căn cứ tại đây, nó hoạt động tại vùng bờ tây trong các nhiệm vụ huấn luyện bay, diễn tập chiến thuật và các cuộc tập trận. Hằng năm nó tham gia vào các cuộc tập trận cơ động hạm đội ở Hawaii, trong vùng biển Caribe, ngoài khơi Vùng kênh đào Panama, và tại Đông Thái Bình Dương. Trong các chuyến đi thử, chiếc Lexington đạt được vận tốc trung bình 30,7 knot (hải lý mỗi giờ), và duy trì được vận tốc 34,5 knot trong một giờ.

Thuyền trưởng của chiếc tàu trong những năm 19301931Ernest King, người mà sau đó sẽ là Trưởng phòng Hành quân Hải quân trong Thế chiến II.

Năm 1931, Robert A. Heinlein, sau này là nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng, làm việc cho hệ thống radio liên lạc, lúc đó còn trong thời kỳ mới mẻ, với các máy bay của tàu.[3] Lexington là một trong số 14 tàu chiến đầu tiên được trang bị radar kiểu sơ khai RCA CXAM-1.[1]

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

1941[sửa | sửa mã nguồn]

Vào mùa Thu năm 1941 nó di chuyển cùng lực lượng tàu phối hợp đến vùng biển Hawaii để thực tập chiến thuật.

Vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, chiếc Lexington đang ở ngoài khơi cùng Lực lượng đặc nhiệm TF 12 vận chuyển các máy bay của Thủy quân Lục chiến từ Trân Châu Cảng đến tăng cường cho Midway, khi nhận được những tin tức về việc Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng. Nó lập tức tung ra các máy bay trinh sát để truy tìm hạm đội Nhật, và sau đó hướng về phía Nam để gặp gỡ lực lượng đặc nhiệm của tàu tuần dương Indianapolis và tàu sân bay Enterprise để tiến hành những cuộc tìm kiếm ở hướng Tây Nam đảo Oahu cho đến khi quay lại Trân Châu Cảng vào ngày 13 tháng 12.

Lexington khởi hành ngày hôm sau để không kích lực lượng Nhật Bản tại Jaluit nhằm giải tỏa áp lực cho đảo Wake; nhưng các mệnh lệnh này bị hủy bỏ vào ngày 20 tháng 12, và nó chuyển hướng đến hỗ trợ cho lực lượng tàu Saratoga trong việc tăng cường cho đảo Wake. Khi đảo Wake thất thủ ngày 23 tháng 12, lực lượng của cả hai tàu sân bay được gọi quay trở về Trân Châu Cảng, và đến nơi ngày 27 tháng 12.

1942[sửa | sửa mã nguồn]

Lexington tiến hành những cuộc tuần tra nhằm ngăn chặn các cuộc đột kích của đối phương trong vùng tam giác OahuJohnstonPalmyra cho đến ngày 11 tháng 1 năm 1942, khi nó rời khỏi Trân Châu Cảng như là kỳ hạm của Phó Đô đốc Wilson Brown chỉ huy Lực lượng Đặc nhiệm TF 11. Vào ngày 16 tháng 2, lực lượng này hướng đến để tấn công vào Rabaul, New Britain, được hoạch định vào ngày 21 tháng 2; và trong khi tiếp cận vào ngày hôm trước, Lexington bị tấn công bởi hai đợt máy bay đối phương, mỗi đợt gồm chín chiếc. Lực lượng tuần tra chiến đấu trên không và pháo phòng không của bản thân chiếc tàu sân bay đã bắn rơi 17 chiếc. Trong chiến dịch này, Trung úy Edward O'Hare đã được tặng thưởng Huân chương Danh dự vì đã bắn rơi năm máy bay địch trong một phi vụ duy nhất.

Việc tuần tra tấn công tại vùng biển Coral (biển San hô) được tiếp tục cho đến ngày 6 tháng 3, khi nó gặp gỡ Lực lượng Đặc nhiệm TF 17 của tàu sân bay Yorktown và tung ra một cuộc tấn công bất ngờ đầy thành công ngang qua dãy núi Owen StanleyNew Guinea để gây tổn thất nặng nề cho các tàu bè và căn cứ tại SalamauaLae vào ngày 10 tháng 3. Sau đó nó quay về Trân Châu Cảng, và đến nơi ngày 26 tháng 3.

Lực lượng đặc nhiệm của chiếc Lexington rời khỏi Trân Châu Cảng vào ngày 15 tháng 4. Nó đã trải qua một cuộc sửa chữa ngắn, trong đó các tháp pháo 8 inch được tháo bỏ và thay bằng các khẩu pháo phòng không 1,1 inch bốn nòng. Nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm TF 17 vào ngày 1 tháng 5. Do việc khám phá ra hạm đội Nhật đang được tập trung đe dọa vùng biển Coral, chiếc Lexington và chiếc Yorktown đã di chuyển về hướng này để tìm lực lượng đối phương đang hỗ trợ cho một kế hoạch đổ quân. Việc bành trướng về phía Nam của quân Nhật phải được ngăn chặn, nếu không việc liên lạc bằng đường biển với AustraliaNew Zealand sẽ bị cắt đứt, và các lãnh thổ này sẽ bị mối đe dọa chiếm đóng. Trận chiến biển Coral là kết quả của các hoạt động trên của cả hai bên.

Trận chiến biển Coral[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc Lexington đang cháy trong Trận chiến biển Coral
Các cú đánh trúng trực tiếp được xác nhận mà chiếc Lexington chịu đựng trong trận đánh

Ngày 7 tháng 5 năm 1942, các máy bay trinh sát báo các đã trông thấy lực lượng tàu sân bay đặc nhiệm của đối phương. Các phi đội của chiếc Lexington đã đánh chìm chiếc tàu sân bay hạng nhẹ Shōhō của Nhật. Cùng ngày hôm ấy sau đó, 12 máy bay ném bom và 15 máy bay phóng ngư lôi từ các tàu sân bay hạng nặng ShōkakuZuikaku, vốn còn chưa phát hiện được, đã bị đánh chặn bởi các máy bay tiêm kích phòng thủ của những chiếc LexingtonYorktown, và đã bắn rơi chín máy bay đối phương.

Sáng ngày 8 tháng 5, một máy bay của Lexington đã tìm thấy đội tàu Shōkaku; một cuộc tấn công được các tàu sân bay Mỹ tung ra ngay lập tức, và chiếc tàu sân bay Nhật bị hư hại nặng. Tuy nhiên, lúc 11 giờ, các máy bay đối phương đã thâm nhập qua được hàng máy bay tiêm kích phòng thủ, và 20 phút sau chiếc Lexington trúng phải một ngư lôi bên mạn trái. Vài giây sau, một ngư lôi thứ hai đánh trúng mạn trái ngay phía trước cầu tàu. Cùng lúc đó, nó trúng phải ba trái bom từ các máy bay ném bom bổ nhào đối phương, khiến nó bị nghiêng 7 độ về mạn trái và phát sinh nhiều đám cháy. Đến 13 giờ, các nhóm cứu nạn đã kiểm soát được các đám cháy và giữ được chiếc tàu thăng bằng, và nó có thể di chuyển được với vận tốc 25 knot (46,3 km/h; 28,8 mph) và đã sẵn sàng để thu hồi các phi đội của nó. Bổng bất ngờ chiếc Lexington bị rung chuyển bởi một vụ nổ lớn gây ra bởi cháy hơi xăng bên dưới, và các đám cháy lại không thể kiểm soát được. Đến 15 giờ 58, thuyền trưởng Frederick Carl Sherman, do lo ngại cho sự an toàn của thủy thủ đoàn làm việc bên dưới, đã ra lệnh chấm dứt mọi hoạt động cứu nạn và mọi người phải tập trung lên sàn đáp. Lúc 17 giờ 01 phút, ông ra lệnh "bỏ tàu" và việc di tản được tuần tự tiến hành. Thủy thủ đoàn di chuyển ra hai bên nhảy vào nước biển ấm được các tàu tuần dươngtàu khu trục kế bên vớt gần như ngay lập tức. Đô đốc Aubrey Wray Fitch và bộ tham mưu của ông chuyển sang chiếc tàu tuần dương Minneapolis; Thuyền trưởng Sherman và sĩ quan cao cấp của ông, Trung tá Morton T. Seligman, sau khi kiểm tra là mọi người đều được an toàn, là những người cuối cùng rời tàu.

Chiếc Lexington bị bùng cháy, ngọn lửa bốc cao hàng trăm mét. Để tránh bị đối phương bắt được, chiếc tàu khu trục Phelps tiến đến gần ở khoảng cách 1.370 m (1.500 yd) và bắn hai trái ngư lôi vào sườn của nó; với một tiếng nổ lớn cuối cùng, chiếc Lexington bị chìm lúc 19 giờ 56 phút tại tọa độ 15°20′N 155°30′Đ / 15,333°N 155,5°Đ / -15.333; 155.500.

Danh dự - Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Lexington đã nhận được hai Ngôi sao chiến đấu vì các thành tích phục vụ trong Thế chiến II.

Vào tháng 6 năm 1942, năm ngày sau khi có thông cáo chính thức của Hải quân Mỹ về việc chiếc Lexington bị đánh chìm, các công nhân làm việc tại xưởng đóng tàu Quincy, nơi mà chiếc tàu được đóng hai mươi mốt năm trước đó, đã gửi điện lên Bộ trưởng Hải quân Mỹ Frank Knox để đề nghị đổi tên một trong những chiếc tàu sân bay đang được đóng ở đó (chiếc USS Cabot) thành USS Lexington.[4] Knox đã đồng ý với đề nghị đó, và vào ngày 23 tháng 9 năm 1942 chiếc USS Lexington thứ năm trong lịch sử Hải quân Mỹ được hạ thủy.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Macintyre, Donald, CAPT RN (tháng 9 năm 1967). Shipborne Radar. United States Naval Institute Proceedings. 
  2. ^ Friedman 1983 p. 390
  3. ^ Được nêu lên trong lời bạt của truyện Searchlight trong cuốn tuyển tập Expanded Universe.
  4. ^ United Press, Workers Name New Lexington, Waterloo Daily Courier, 1942-06-17, xem được tại NewspaperArchive.com.
  • Friedman, Norman (1983). U.S. Aircraft Carriers. Naval Institute Press. ISBN 0-87021-739-9. 
  • Queen of the Flat-Tops, by Stanley Johnston. Nguyên được xuất bản năm 1942 bởi E.P. Dutton & Co., nó được in lại vào năm 1979 như là một phần của loạt sách "Bantam War Book". Đây là bài tường thuật được tận mắt chứng kiến về chuyến hải hành cuối cùng của Lexington bởi Johnston, một ký giả từ Chicago.
  • Bài này có các trích dẫn từ nguồn en:Dictionary of American Naval Fighting Ships thuộc phạm vi công cộng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]