Cuộc sống của những người khác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Das Leben der Anderen

Áp phích nguyên gốc tiếng Đức
Thông tin phim
Đạo diễn Florian Henckel von Donnersmarck
Sản xuất Max Wiedemann
Quirin Berg
Tác giả Florian Henckel von Donnersmarck
Diễn viên Ulrich Mühe
Martina Gedeck
Sebastian Koch
Ulrich Tukur
Âm nhạc Gabriel Yared
Stéphane Moucha
Quay phim Hagen Bogdanski
Dựng phim Patricia Rommel
Hãng sản xuất Wiedemann & Berg
Bayerischer Rundfunk
ARTE
Creado Film
Phát hành Buena Vista International (Đức)
Sony Pictures Classics (Hoa Kỳ)
Công chiếu 23 tháng 3, 2006 (2006-03-23)
Độ dài 137 minutes[1]
Quốc gia Đức
Ngôn ngữ tiếng Đức
Kinh phí $2 triệu[2]
Doanh thu $77,356,942[2]

Cuộc sống của những người khác (tiếng Đức: Das Leben der Anderen), phim điện ảnh Đức, giành giải Oscar phim ngoại ngữ hay nhất năm 2006, và nhiều giải thưởng lớn khác, thu về hơn 77 triệu USD trên toàn thế giới kể đến tháng 11 năm 2007, khai thác đề tài điệp báo ở Đông Đức, đến khi bức tường Berlin sụp đổ. Phim do Florian Henckel von Donnersmarck đạo diễn.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Đông Berlin vào năm 1984, đại úy công an Gerd Wiesler được giao nhiệm vụ theo dõi kịch gia Georg Dreyman. Ông ta mặc dù cũng nhận thấy sự cần thiết của việc theo dõi kịch gia nhân dân được nhiều ca ngợi, nhưng không biết vì lý do gì, bộ trưởng văn hóa Bruno Hempf lại ủng hộ quyết định này. Hempf thiệt ra muốn loại trừ Dreyman, để mà chiếm đoạt người bạn đời của ông ta, nữ kịch sĩ Christa-Maria Sieland, cho riêng mình. Wiesler cho các công an mật dưới quyền đặt máy ghi âm tại nhà nơi Dreyman và Sieland sống, và thiết lập một đài nghe trộm dưới mái nhà này. Qua đó Wiesler thấy được một cuộc gặp gỡ giữa Sieland và Hempf. Thượng cấp của ông ta, Grubitz, ra chỉ thị, là không truy tầm các tin tức về ông bộ trưởng và khuyến khích ông, bằng cách hứa thăng chức ông nếu cuộc theo dõi thành công. Wiesler thất vọng khi biết, cuộc điều tra này không phải để chống lại những kẻ thù của Xã hội chủ nghĩa, mà vì những mục đích cá nhân.
Khi Sieland được Hempf chở về nhà vào lúc tối khuya, Wiesler dụ người tình của bà ra tới cửa nhà, để Dreyman biết tới quan hệ giữa 2 người này. Nhờ việc theo dõi Dreyman, Wiesler, một người độc thân và đời sống tình cảm không có gì đặc biệt để nêu ra cả, biết đến thế giới nghệ thuật, sự cởi mở của tư tưởng, cũng như những quan hệ giữa con người, mà trái hẳn với ông. Nỗ lực của Dreyman, nói với bộ trưởng Hempf giùm cho bạn của mình là Albert Jerska, một nhà đạo diễn mà từ 7 năm nay bị cấm hành nghề, đã không thành công. Sau khi Jerska tự tử, Dreyman ngồi bên cây đàn dương cầm, chơi bản „Sonate vom Guten Menschen", bản nhạc mà Jerska đã mua tặng ông vào ngày sinh nhật. Wiesler đã rất xúc động trước bản nhạc này. Chẳng bao lâu sau đó ông ta ăn cắp từ nhà của Dreyman một tập sách của Bertolt Brecht, để đọc sau lúc làm việc. Trong những bài tường thuật ông viết về những chuyện không đâu, dấu nhẹm những hoạt động đối lập của Dreyman, những điều mà đã làm thay đổi quan điểm của chính ông về nhà cầm quyền. Sieland bị áp lực của ông bộ trưởng trở thành người tình bắt đắc dĩ của ông ta, bị cắn rứt khi khi hẹn gặp Hempf rồi bị nghiện thuốc. Trong một quán nước Wiesler tìm cách nói chuyện với bà và khuyến khích bà hãy thẳng thắn. Sau đó thay vì ngủ lại đêm với bộ trưởng Hempf, bà đã quay trở về với Dreyman.
Một phóng viên của tạp chí Tây Đức Der Spiegel nhập lậu một máy đánh chữ vào và đã để cho Dreyman sử dụng. Nhà kịch gia viết, thúc đẩy bởi việc tự tử của người bạn mình Jerska, một bản tường trình về tỷ lệ cao và không bình thường số người tự tử, tỷ lệ mà từ năm 1977 không được nhà cầm quyền tại Đông Đức công bố nữa. Tờ báo Spiegel cho in bài này nặc danh. Việc công bố ở phương Tây làm cho giới lãnh đạo cơ quan mật vụ nổi giận. Bị thương tổn vị bị Sieland khước từ, Hempf ra lệnh hỏi cung bà ta. Bà ta không chịu nổi áp lực, chấp nhận làm mật báo viên cho cơ quan an ninh và tiết lộ Dreyman là người viết ra bài báo đăng trên tờ Spiegel. Tuy nhiên khi khám xét nhà thì các nhân viên Stasi không tìm ra cái máy đánh chữ này. Grubitz, bây giờ bắt đầu nghi ngờ sự trung thành của Wiesler, ra lệnh ông hỏi cung Sieland một lần nữa, để mà nữ kịch sĩ này tiết lộ chỗ giấu chính xác của cái máy đánh chữ này. Trước khi Grubitz tự đến để lục soát nhà, Wiesler vội đến căn hộ của Dreyman và lấy mất cái máy đánh chữ. Khi Grubitz tới nơi giấu, Sieland, không biết, cái máy chữ không còn ở đó, không chịu nổi sự xấu hổ vì đã phản bội. Bà đã vội chạy ra khỏi nhà, đứng trước một chiếc xe vận tải tình cờ chạy ngang, và bị xe cán chết. Không tìm được ra bằng chứng, Grubitz biết rõ là, Wiesler đã che chở cho Dreyman, và ông đã đổi Wiesler sang khâu kiểm soát thư từ, một vị trí đơn điệu trong cơ quan an ninh.

Tòa nhà điều tra cũ ở Hohenschönhausen

Sau khi nước Đức thống nhất, một vở kịch cũ của Dreyman được trình diễn, nhà kịch gia và Hempf tình cờ gặp nhau trong phòng giải lao. Dreyman hỏi ông cựu bộ trưởng, tại sao không ai theo dọ thám ông ta. Hempf trả lời, là ông ta hoàn toàn bị theo dõi: „Ông xem thử đằng sau nút bật đèn." Khi khám phá máy thu âm, Dreyman, đến cơ quan cất giữ hồ sơ Stasi, để xem hồ sơ của mình. Qua những bài tường trình ông nhận ra là nhân viên Stasi „HGW XX/7" đã che chở cho ông. Ông đã tìm ra Wiesler, người mà bây giờ làm nghề bỏ thơ, tuy nhiên không liên lại với ông. 2 năm sau đó Dreyman cho phổ biến cuốn truyện Bài hát về một người tốt lành. Wiesler chú ý tới nhờ sự quảng cáo cuốn sách này tại một tiệm sách với hàng chữ: Viết cho „HGW XX/7, rất cảm ơn", và đã mua nó. Khi được người bán hỏi, ông có muốn gói lại để biếu ai không, ông trả: „Không, cuốn sách này tôi mua cho riêng tôi."

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ulrich Mühe as Hauptmann Gerd Wiesler
  • Martina Gedeck as Christa-Maria Sieland
  • Sebastian Koch as Georg Dreyman
  • Ulrich Tukur as Oberstleutnant Anton Grubitz
  • Thomas Thieme as Minister Bruno Hempf
  • Hans-Uwe Bauer as Paul Hauser
  • Volkmar Kleinert as Albert Jerska
  • Matthias Brenner as Karl Wallner
  • Charly Hübner as Udo
  • Herbert Knaup as Gregor Hessenstein
  • Bastian Trost as Häftling 227
  • Marie Gruber as Frau Meineke
  • Zack Volker Michalowski as Schriftexperte

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ DAS LEBEN DER ANDEREN - THE LIVES OF OTHERS. British Board of Film Classification. 27 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2012. 
  2. ^ a ă “The Lives of Others (2007)”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]