Gơnai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gơnai

Gơnai hay đá phiến ma là một loại đá phổ biến và phân bố rộng trong lớp vỏ Trái Đất, được hình thành bởi các quá trình biến chất khu vực ở mức cao từ các thành hệ đã tồn tại trước đó mà nguyên thủy chúng là đá lửa hay đá trầm tích. Đá gơnai thông thường là loại đá tạo phiến từ trung bình tới thô và chủ yếu là tái kết tinh nhưng không chứa một lượng lớn mica, clorit hay các khoáng vật dạng phiến dẹt khác. Các loại đá gơnai là đá lửa biến chất hoặc tương đương của chúng được gọi là gơnai granit, gơnai diorit v.v. Tuy nhiên, phụ thuộc vào thành phần hóa học của chúng, có thể gọi chúng là gơnai granat, gơnai biotit, gơnai anbit v.v. Octogơnai là từ để chỉ gơnai có nguồn gốc từ đá mácma, còn Paragơnai là từ để chỉ đá gơnai có nguồn gốc từ đá trầm tích. Tuy nhiên, phân biệt giữa octogơnai và paragơnai là không dễ. Á gơnai (gneissose) là thuật ngữ để chỉ các loại đá có tính chất tương tự như gơnai.

Gơnai tương tự như đá phiến, ngoại trừ ở chỗ các khoáng vật được sắp xếp thành các dải. Đôi khi rất khó phân biệt gơnai và đá phiến do một số loại đá gơnai dường như có nhiều mica so với thực tế chúng có. Điều này đặc biệt đúng với các mặt phẳng chia tách giàu mica.

Đá gơnai hợp thành phần lớn lớp granit-biến chất của lớp vỏ lục địa, lộ rõ tại các khiên kết tinh (ví dụ khiên Baltica, khiên Ukraina, khiên Canada v.v) và hợp thành nền tảng của các nền cổ (ví dụ nền Siberi).

Loại đá cổ nhất đã được biết đến hiện nay trong số các loại đá trên Trái Đất là đá gơnai xám của khu vực Acasta, hợp thành nền tảng của nền cổ Slave thuộc khiên Canada, với niên đại tới 3,92 tỷ năm. Tuy nhiên, không phải mọi loại đá gơnai đều có độ tuổi rất cổ. Người ta đã biết đến loại đá gơnai niên đại Tân sinh mà sự hình thành của nó gắn liền với biến chất nhiệt độ cao (ví dụ trong các lõi granit-biến chất kiểu Cordillera).

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Khoáng vật chủ yếu của đá gơnai là plagiocla, thạch anh và fenspat kali (microclin hay orthoclas), với hàm lượng ít hơn có thể là biotit, muscovit, hocblen (hornblende), pyroxen (pyroxene), thạch lựu, disten, sillimanit và nhiều khoáng vật khác. Theo thành phần hóa học gơnai gần với granitphiến thạch sét. Gơnai có thể được tạo thành từ biến chất cục bộ của các trầm tích (đá phiến sét), cũng như của đá macma với thành phần axít và trung tính (granit, diorit v.v.).

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ sở để phân chia các biến thể có thể là các nét đặc biệt trong thành phần khoáng và hóa học cũng như kết cấu và dạng vân đá. Ví dụ — plagiogơnai, là dạng đá trong đó fenspat chủ yếu là plagiocla, còn gơnai sillimanit là loại đá gơnai mà ngoài các khoáng vật bắt buộc cho gơnai (thạch anh và fenspat) còn chứa cả sillimanit v.v.

Các dạng gơnai xuất hiện từ biến chất của đá trầm tích, thường giàu ôxít nhôm và không hiếm khi chứa các khoáng vật như andalusit, sillimanit, kyanit, thạch lựu. Những loại đá gơnai như thế gọi là gơnai nhiều ôxít nhôm. Gơnai với kết cấu porphyoblast chứa các porphyroblast hay porphyroclast lớn chứa fenspat (thường là microclin) đôi khi được gọi là gơnai mắt (augengneise).

Một vài biến thể của gơnai có tên gọi riêng. Ví dụ, đặc trưng cho các nền cổ Tiền Cambri sớm là các dạng charnockitenderbit chứa hipecten.

Gơnai Augen[sửa | sửa mã nguồn]

Gơnai Augen từ Rio de Janeiro, Brasil.

Gơnai Augen hay gơnai mắt là loại đá gơnai hạt thô, được hình thành từ sự biến chất của của granit, trong đó chứa biến dạng méo mó hình elip hay hình hột đậu đặc trưng liên kết các porphyroclast (mắt) fenspat, thông thường là microclin (đá vi tà trường), trong các lớp thạch anh, biotit và các dải magnetit.

Từ nguyên học: từ tiếng Đức augen (IPA: [ˈaʊgən]), nghĩa là "mắt".

Từ nguyên học[sửa | sửa mã nguồn]

Từ nguyên học của "gơnai" còn gây tranh cãi. Một số nguồn nói rằng nó có nguồn gốc từ động từ gneist (đánh lửa, lóe sáng; gọi như thế vì sự lấp lánh của đá) trong tiếng Đức Cao Trung và nó xuất hiện trong tiếng Anh ít nhất là kể từ năm 1757[1]. Các nguồn khác lại cho rằng gốc từ của nó là thuật ngữ của thợ đào quặng vùng Saxony có nghĩa là phân hủy, thối rữa hay có nghĩa là loại vật chất không có giá trị để chỉ loại đá xốp bị phong hóa, đi kèm theo quặng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Blatt Harvey và Robert J. Tracy, 1996, Petrology: Igneous, Sedimentary and Metamorphic, ấn bản lần 2, trang 359-365, Freeman, ISBN 0-7167-2438-3