Nueva Ecija

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nueva Ecija
—  Tỉnh  —
Vị trí Nueva Ecija tại Philippines
Vị trí Nueva Ecija tại Philippines
Tọa độ: 15°35′B 121°00′Đ / 15,583°B 121°Đ / 15.583; 121.000Tọa độ: 15°35′B 121°00′Đ / 15,583°B 121°Đ / 15.583; 121.000
Quốc gia  Philippines
Vùng Trung Luzon (Vùng III)
Thành lập 1705
Thủ phủ Palayan
Chính quyền
 - Kiểu Tỉnh của Philippines
 - Tỉnh trưởng
 - Phó Tỉnh trưởng
Diện tích
 - Tổng cộng 5.751,3 km² (2.220,6 mi²)
Dân số (2007)
 - Tổng cộng 1,853,853
Múi giờ PHT (UTC+8)
ZIP Code
Ngôn ngữ Tiếng Tagalog, Tiếng Anh, Tiếng Kapampangan, Tiếng Ilocano, Tiếng Pangasinan

Nueva Ecija là một tỉnh của Philippines thuộc vùng Trung Luzon. Tỉnh lị là thành phố Palayan. Theo chiều kim đồng hồ từ phía nam, tỉnh giáp với Bulacan, Pampanga, Tarlac, Pangasinan, Nueva Vizcaya, và Aurora.

Tên của tỉnh được đặt theo tên của thành phố cổ Écija ở Sevilla, Tây Ban Nha. Năm 1896, Nueva Ecija trở thành tỉnh đầu tiên nổ ra khởi nghĩa chống lại sự chiếm đóng của Tây Ban Nha và là một trong những tỉnh đầu tiên tuyên bố độc lập năm 1898.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nueva Ecija là nơi nhập cư của hàng nghìn người vào thế kỷ trước. Những người dân từ các tỉnh Pampanga, Tarlac, Bulacan, Pangasinan và Ilocos. Ngày nay cư dân Nueva Ecija có nguồn gốc từ những người định cư này và nhiều người vẫn gìn giữ những nét văn hóa truyền thống ở quê hương của tổ tiên họ. Khoảng 77% sử dụng tiếng Tagalog như là ngôn ngữ thứ nhất, những người nói tiếng Kapampangan, tiếng Pangasinantiếng Ilocano sinh sống ở các đô thị phía bắc và phía nam

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nueva Ecija được coi là “Kho thóc” của Philippines vì có đất đại màu mỡ và là tỉnh dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về trồng hành, chủ yếu ở đô thị tự trị Bongabon, ngoài ra còn có các nông sản như xoài, chuối, tỏi và rau quả.

Giaó dục được coi là một ngành kinh tế chính trong tỉnh. Các cơ sở giáo dục hàng đầu là Đại học Quốc gia Trung Luzon ở Munoz, Đại học Khoa học & Công nghệ Nueva Ecija, Đại học Wesleyan-Philippines, Học viện La Fortuna và Đại học Araullio ở Cabanatuan.

Một vài khu vực có ngành khai mỏ. Dồng và mangan được tìm thấy ở General Tinio, Carranglan và Pantabangan, một số nơi còn có cả vàng. Vào tháng 6/2008 tỉnh còn nhận thêm biệt danh “Thủ phủ sữa của Philippines” vì tỉnh có sản lượng sữa bò và sữa trâu (trâu Mã Lai) nhiều hơn bất cứ nơi nào ở Philippines

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh có 5 thành phố:

27 đô thị tự trị:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]