Samar
| Samar | |
| — Tỉnh — | |
| Vị trí Samartại Philippines | |
| Tọa độ: 11°50′B 125°00′Đ / 11,833°B 125°ĐTọa độ: 11°50′B 125°00′Đ / 11,833°B 125°Đ | |
|---|---|
| Quốc gia | |
| Vùng | Đông Visayas (Vùng VIII) |
| Thành lập | 1768 |
| Thủ phủ | Catbalogan |
| Chính quyền | |
| - Kiểu | Tỉnh của Philippines |
| - Tỉnh trưởng | |
| - Phó Tỉnh trưởng | |
| Diện tích | |
| - Tổng cộng | 6.048,0 km² (2.335,1 mi²) |
| Dân số (2007) | |
| - Tổng cộng | 695,149 |
| Múi giờ | PHT (UTC+8) |
| ZIP Code | |
| Ngôn ngữ | Tiếng Waray-Waray, Tiếng Cebuano |
Samar, trước đây gọi là Tây Samar, là một tỉnh của Philippines thuộc vùng Đông Visayas. Tỉnh lị là thành phố Catbalogan. Tỉnh nằm ở phía tây của đảo Samar cùng với một vài đảo nhỏ khác ở biển Samar phía tây phần đảo chính. Thành phố Catbalogan và thành phố Calbayogcủa tỉnh là hai trong 3 thành phố duy nhất trên toàn bộ hòn đảo. Phía bắc tỉnh giáp với tỉnh Bắc Samar và phía đông giáp Đông Samar. Samar kết nối với Leyte qua cây cầu San Juanico qua eo biển San Juanico, eo biển hẹp nhất Philippines. Ở phía nam là vịnh Leyte.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Nhà thám hiểm Ruy López de Villalobos đã đến đảo lần đầu tiên vào năm 153 và đtj tên đảo là Las Islas Filipinas. Năm 1596, nhiều cái tên như Samar, Ibanao, Tandaya được đặt cho đảo. Cái tên Samar có nguoòn gốc từ ngông ngữ địa phương “samad” có nghĩa là vết thương hay vết cắt, thích hợp để mô tả đặc điểm tự nhiên lởm chởm của đảo. Trong những ngày đô hộ đầu tiên của thực dân Tây Ban Nha, Samar là một phần của Cebu. Năm 1735, Samar và Leyte hợp nhất trong một tỉnh với Carigara, Leyte là thủ phủ. Năm 1768, Samả lại trở thành một tỉnh riêng. Năm 1965, Samả bị chia thành 3 đơn vị: Bắc Samar, Đông Samar, Tây Samar. Mỗi vùng có một thủ phủ riêng. Tây Samar sau đổi lại thành Samar như ngày nay.
Nhân khẩu [sửa]
Người dân bản địa tại Samar là người Waray-Waray Samar. Tuy nhiên ở các đô thị tự trị Almagro và Santo Niño, tiếng Cebuano là ngôn ngữ mẹ đẻ.
Hành chính [sửa]
Tỉnh có 2 thành phố :
24 đô thị tự trị: