Người Buryat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Buryat
Selenginskie buryaty.jpg
The Selengyin Buryats, (c. 1900)
Tổng số dân
~500.000
Khu vực có số dân đáng kể
 Nga 440.000
 Mông Cổ 45.087[1]
 Uzbekistan 900
 Kazakhstan 600
 Ukraina 400
 Hoa Kỳ 100
Ngôn ngữ
Tiếng Buryat, Tiếng Nga
Tôn giáo
Phật giáo Tây Tạng ("Lạt-ma giáo"), Shaman giáo.
Dân tộc thiểu số có liên quan
Barga, Mông Cổ, Người bản địa Alaska, Quileute, Tuva, Khaka, Yupik Siberi, Altay, Aleut.

Buryat hay Buriyad (tiếng Buryat: Буряад, Buryaad), có dân số khoảng 500.000, là nhóm dân tộc bản địa lớn nhất tại vùng Siberia, hầu hết tập trung tại quê hương của họ là Cộng hòa Buryatia, một chủ thể liên bang của Nga. Họ là phân nhóm miền Bắc chính của người Mông Cổ.[2] Người Buryat có chung nền văn hóa với các nhóm người Mông Cổ khác như chăn nuôi du mục, và sử dụng ger làm nơi sinh sống. Ngày nay, phần lớn người Buryat sống bên trong và xung quanh Ulan-Ude, thủ đô cua nước cộng hòa, mặc dù vậy một số vẫn có cuộc sống truyền thống ở vùng đồng quê. họ nói một phương ngữ của tiếng Mông Cổ được gọi là tiếng Buryat.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Người Buryat có nguồn gốc từ người Eskimo Siberi định cư ở khu vực hồ Baikal. Sau đó, vào thế kỷ 13, người Mông Cổ đến và nô dịch hóa các bộ lạc Buryat quanh hồ Baikal. Tên gọi "Buriyad" được kể đến là một trong những dân tộc sống trong rừng lần đầu trong Mông Cổ bí sử (có thể là năm 1240).[4] Thư tịch này nói rằng Truật Xích, con trai cả của Thành Cát Tư Hãn, đac hành quân lên phía bắc để chinh phục người Buryat vào năm 1207.[5] Người Buryat lúc đó sống dọc theo sông Angara và các chi lưu. Trong ki đó, một bộ phận của họ, Barga, xuất hiện ở cả phía tây Baikal và ở phía bắc thung lũng Barguzin thuộc Buryatia ngày nay. Liên hệ với người Bargas là người Khori-Tumed sống dọc sông Arig ở phía đông KhövsgölAngara.[6] Một cuộc nổi dậy nổ ra vào năm 1217, khi Thành Cát Tư Hãn cho phép một người của mình bắt 30 trinh nữ Tumad song đã bị dập tắt. Người Buryat gia nhập vào người Oirat và thách thức quyền cai trị của người Mông Cổ Đông vào thời Bắc Nguyên cuối thế kỷ 14.[7]

Buryatia01.png

Về mặt lịch sử, lãnh thổ quanh hồ Baikal thuộc về người Khalkha và dân tộc bản địa (Eskimo Siberi), người Buryat là thần dân của hai hãn người Khalkha là Tusheet và Setsen. Khi Nga mở rộng kiểm soát đến Ngoại Baikal (miền đông Siberia) vào năm 1609, người Cozack chỉ tìm thấy một nhóm nhỏ cư dân bản địa nói một phương ngữ Mông Cổ gọi là Buryat và phải cống nạp cho người Khalkha.[8] Tuy nhiên, họ đã đủ mạnh để bắt ép người Ket và người Samoyed tại Kan và người Evenk tại Hạ Angara cống nạp cho họ. Tổ tiên của phần lớn người Buryat hiện đại nói một biến thể ngôn ngữ Turk-Tungus vào thời điểm đó.[9] Ngoài ra chính các bộ tộc Buryat-Mông Cổ (Bul(a)gad, Khori, Ekhired, Khongoodor) đã hợp nhất với người Buryat, người Buryat cũng đồng hóa các nhóm khác, bao gồm một số người Oirat, Khalkha, Tungus (người Evenk). Khori-Barga đã thiên di từ Barguzin về phía đông đến vùng đất giữa Đại Hưng An Lĩnh và Argun. Khoảng năm 1594 hầu hết họ quay trở lại Aga và Nerchinsk để thoát khỏi sự chinh phục của người Daur. Lãnh thổ và dân tộc này chính thức bị sáp nhập vào Nga bằng các điều ước vào các năm 1689 và 1727, khi đó các lãnh thổ ở cả hai bên Hồ Baikal bị tách khỏi Mông Cổ của Đại Thanh. Sự hợp nhất các bộ tộc và nhóm Buryat hiện đại đã diễn ra dưới tình trạng là một phần của nước Nga. Từ giữa thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20, dân số người Buryat tăng từ 27.700 lên 300.000.[10]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Wikisource-logo.svg
Wikisource có văn bản gốc từ 1911 Encyclopædia Britannica về:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ National Census 2010
  2. ^ The New Encyclopædia Britannica, 15th Edition. (1977). Vol. II, p. 396. ISBN 0-85229-315-1.
  3. ^ http://www.ethnologue.com/show_family.asp?subid=90485
  4. ^ Erich Haenisch, Die Geheime Geschichte der Mongolen, Leipzig 1948, p. 112
  5. ^ Owen Lattimore-The Mongols of Manchuria, p. 165
  6. ^ C.P.Atwood-Encyclopedia of Mongolia and the Mongol Empire, p. 61
  7. ^ D. T︠S︡ėvėėndorzh, Tu̇u̇khiĭn Khu̇rėėlėn (Mongolyn Shinzhlėkh Ukhaany Akademi) – Mongol Ulsyn tu̇u̇kh: XIV zuuny dund u̇eės XVII zuuny ėkhėn u̇e, p. 43
  8. ^ University of Pittsburgh. University Center for International Studies, Temple University-Russian history: Histoire russe, p. 464
  9. ^ Bowles, Gordon T. (1977). The People of Asia, pp. 278–279. Weidenfeld and Nicolson, London. ISBN 0-297-77360-7.
  10. ^ Buryats

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]