Cộng hòa Sakha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Map of Russia - Sakha (Yakutia) Republic (2008-03).svg
Sakha Yakutia rep.png

Cộng hòa Sakha (tiếng Nga: Респу́блика Саха́ (Яку́тия), Respublika Sakha (Yakutiya); tiếng Sakha: Саха Өрөспүүбүлүкэтэ, Sakha Öröspübülükete) là một chủ thể liên bang của Nga (một nước cộng hòa). Một nửa diện tích nước cộng hòa này nằm ở Vùng liên bang viễn đông, diện tích của nước cộng hòa này là 3.100.000 km² với dân số chỉ chưa tới một triệu người. Thủ đô là Yakutsk.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Người Sakha Turk (người Yakut) đến vào khoảng thời gian khá gần đây là thế kỷ 13 từ khu vực Trung Á. Họ có nguồn gốc hỗn hợp Turk (Đột Quyết) và Mông Cổ. Họ đã tiến hành chinh phục các bộ lạc Altai săn bắn-hái lượm bản địa và bắt đầu tự gọi mình là “Sakha”, nguồn gốc của từ này chưa rõ ràng và có nhiều tranh luận.

Người Evenk gọi người Sakha là “Yako” và thuật ngữ này được người Nga sử dụng khi họ đến khu vực vào thế kỷ thứ 17. Tygyn, một vị vua của người Yakut Khangalassky, đã chấp thuận việc người Nga định cư để đổi lấy hiệp ước quân sự mà trong đó bao gồm cả chiến tranh chống lại các cuộc nổi loạn của người bản địa tại toàn bộ vùng phía Đông của Bắc Á (Magadan, Chukotka, Kamchatka và Sakhalin). Vua của người Yakut Megino-Khangalassky, Kull bắt đầu một âm mưu bằng cách cho xây dựng các hàng rào phòng thủ đầu tiên. Vào tháng 8 năm 1638, triều đình ở Moskva cho thành lập một đơn vị hành chính mới với trọng tâm là Lensky Ostrog.

Có nhiều điều bí ẩn về việc di cư đến và nguồn gốc của những người định cư Nga tại Russkoye Ustye, là nơi cực kỳ biệt lập tại đồng bằng Indigirka, họ được biết đến với nét văn hóa cổ xưa. Hầu hết các sử gia nghiên cứu rằng họ đến nơi này vào một khoảng thời gian nào đó trong thế kỷ 17[1]

Người Nga hình thành nên một nền nông nghiệp tại lưu vực sông Lena. Các thành viên của các nhóm tôn giáo bị lưu đầy đến Sakha vào nửa sau thế kỷ 19 bắt đầu trồng lúa mì, yến mạch và khoai tây. Buôn bán lông thú hình thành một nền kinh tế dùng tiền mặt. Công nghiệp và giao thông bắt đầu phát triển vào cuối thế kỷ 19 và khi bắt đầu thời kỳ Xô viết. Ngoài ra, người ta cũng bắt đầu các hoạt động thăm dò địa chất, khai mỏ và sản xuất chì tại địa phương. Những chiếc tàu và xà lan sử dụng đầu máy hơi nước cũng được đưa đến.

Vào ngày 27 tháng 4 năm 1922, vùng đất Yskytskaya được tuyên bố trở thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tự trị Yakut, tuy vậy trên thực tế vùng phía đông của nó, bao gồm cả thành phố Yakutsk, do phe Bạch vệ kiểm soát. Năm 1992, sau khi Liên Xô tan rã, Yakutia được công nhận là Cộng hòa Sakha (Yakutia) thuộc phạm vi Liên bang Nga.

Yakutia là vùng xa xôi cách trở, ngay cả khi so sánh với phần còn lại của Siberi, vì vậy nơi đây đã được triều đình Sa hoàng và chính quyền cộng sản lựa chọn để lưu đầy tù nhân. Những người bị lưu đày nổi tiếng nhất thời Sa hoàng là nhà văn dân chủ Nikolai Chernyshevsky, người từ chối nhập ngũ Doukhobor, nhà cách mạng xã hội và nhà văn Vladimir Zenzinov, ông đã để lại các mô tả đáng chú ý về những từng trải của mình tại vùng Bắc Cực.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Sakha trải dài từ quần đảo Henrietta ở xa về phía bắc và giáp với các biển Laptev và Đông Siberi thuộc Bắc Băng Dương. Những vùng nước này là những nơi lạnh nhất và băng giá nhất trong tất cả các biển tại Bắc Bán cầu và bị băng bao phủ trong khoảng từ 9-10 tháng trong năm. Quần đảo Tân Siberi là một phần lãnh thổ của nước cộng hòa. Sau khi Nuvanut được tách ra khỏi Lãnh thổ Tây Bắc của Canada, Sakha trở thành thực thể dưới quốc gia lớn nhất trên thế giới, với diện tích 3.103.200 km² (1.198.200 mi²), nhỏ hơn một chút so với lãnh thổ Ấn Độ.

Sakha được phân thành ba vành đai thực vật lớn. Khoảng 40% Sakha năm trên Vòng cực bắc và tất cả chúng bị tầng đất đóng băng vĩnh cứu bao phủ, điều này ảnh hưởng rất lớn tới sinh thái của vùng, ngoài ra có các khu rừng hạn chế ở vùng phía nam. Lãnh nguyên Bắc cực và cận Bắc cực nằm ở khu vực trung tâm, tại đây địa yrêu phát triển thành các tấm thảm xanh và là loại thức ăn cho tuần lộc. Ở phía nam của vãnh đai lãnh nguyên, có lác đác các cây thông và thông rụng lá Siberia lùn được trồng dọc theo các sông. Bên dưới lãnh nguyên là các vùng rừng taiga rộng lớn. Các cây thông rụng lá thống trị ở phía bắc và linh sam và thông bắt đầu xuất hiện ở phía nam. Rừng taiga chiếm khoảng 47% diện tích của Sakha và trong đó có 90% là rừng thông rụng lá.

Sông[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Lena (4.310 km), chảy theo hướng bắc, bao gồm nhiều nhánh sông nhỏ nằm ở Dãy núi Verkhoyansk. Các con sông lớn bao gồm:

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Sakha được biết đến với khí hậu khắc nghiệt, trong đó Dãy núi Verkhoyansk là vùng lạnh nhất ở bắc bán cầu. Cực giá lạnhBắc bán cầu nằm ở Verkhoyansk, nơi đây nhiệt độ xuống tới mức −67.8 °C (−90 °F) năm 1892 và tại Oymyakon, nơi nhiệt độ từng xuống đến −67.7 °C (−89.9 °F) năm 1933.

  • Nhiệt độ trung bình tháng Một: −28 °C (−18,4 °F) (bờ biển) tới −47 °C (−52,6 °F) (Cực giá lạnh).
  • Nhiệt độ trung bình tháng tháng Bảy: ++2 °C (35,6 °F) (bờ biển) tới ++19 °C (66,2 °F) (vùng trung tâm).
  • Lượng mưa trung bình: 200 mm (vùng trung tâm) tới 700 mm (những ngọn núi ở vùng Đông Sakha).

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông đường thủy chiếm ưu thế tại Sakha. Ở nước cộng hòa có sáu cảng sông, hai cảng biển (Tiksi và Zelyony Mys). Sakha có bốn công ty vận chuyển tàu thuyền hoạt động. Tuyến đường thủy chính của nước cộng hòa là sông Lena, kết nối Yakutsk với ga xe lửa Ust-Kut ở tỉnh Irkutsk.

Giao thông đường không là quan trọng đối với việc vận chuyển hành khách. Các tuyến bay kết nối Sakha với hầu hết các khu vực khác của nước Nga. Sân bay Yakutsk là nơi đón khách quốc tế đến nước cộng hòa.

Có hai tuyến đường liên bang đi qua Sakha: Yakutsk-Bolshoy Never và Yakutsk-Magadan. Tuy nhiên, do có tầng đất đóng băng vĩnh cửu, việc sử dụng nhựa đường là không thực tế, bởi vậy các tuyến đường làm bằng đất sét. Khi có các trận mưa lớn đổ xuống khu vực, đường sẽ bị biến thành bãi bùn, đôi khi sẽ cản trở việc đi lại của hành khách.

Tuyến đường sắt Berkakit-Tommot hiện vẫn đang hoạt động. Tuyến đường kết nối Tuyến chính Baikal Amur với các trung tâm công nghiệp tại miền nam Sakha.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Biến động về dân số, 1939–2002
Dân số
958.528 (điều tra dân số năm 2010 kết quả sơ bộ);[2] 949.280 (diều tra dân số năm 2002);[3] 1.081.408 (điều tra dân số năm 1989).[4]

Thống kê dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Source: Russian Federal State Statistics Service
Dân số trung bình (x 1000) Sinh Tử Biến động tự nhiên Tỷ lệ sinh (trên 1000) Tỷ lệ tử (trên 1000) Biến động tự nhiên (trên 1000)
1970 674 13.899 5.700 8.199 20,6 8,5 12,2
1975 775 15.636 6.242 9.394 20,2 8,1 12,1
1980 887 18.132 7.501 10.631 20,4 8,5 12,0
1985 1.002 22.823 7.266 15.557 22,8 7,3 15,5
1990 1.115 21.662 7.470 14.192 19,4 6,7 12,7
1991 1.110 19.805 7.565 12.240 17,8 6,8 11,0
1992 1.090 17.796 8.710 9.086 16,3 8,0 8,3
1993 1.072 16.771 9.419 7.352 15,6 8,8 6,9
1994 1.051 16.434 10.371 6.063 15,6 9,9 5,8
1995 1.029 15.731 10.079 5.652 15,3 9,8 5,5
1996 1.015 14.584 9.638 4.946 14,4 9,5 4,9
1997 1.003 13.909 9.094 4.815 13,9 9,1 4,8
1998 986 13.640 8.856 4.784 13,8 9,0 4,9
1999 970 12.724 9.480 3.244 13,1 9,8 3,3
2000 960 13.147 9.325 3.822 13,7 9,7 4,0
2001 954 13.262 9.738 3.524 13,9 10,2 3,7
2002 950 13.887 9.700 4.187 14,6 10,2 4,4
2003 949 14.224 9.660 4.564 15,0 10,2 4,8
2004 950 14.716 9.692 5.024 15,5 10,2 5,3
2005 950 13.591 9.696 3.895 14,3 10,2 4,1
2006 950 13.713 9.245 4.468 14,4 9,7 4,7
2007 951 15.268 9.179 6.089 16,1 9,7 6,4
2008 953 15.363 9.579 5.784 16,1 10,1 6,1
2009 955 15.970 9.353 6.617 16,7 9,8 6,9
2010 957 16.109 9.402 6.707 16,8 9,8 7,0

Dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo điều tra năm 2010, thành phần dân tộc của nước cộng hòa là:[2]

Dân tộc 1926 1939 1959 1970 1979 1989 2002 2010 1
Số lượng  % Số lượng  % Số lượng  % Số lượng  % Số lượng  % Số lượng  % Số lượng  % Số lượng  %
người Yakut 235.926 81,6% 233.273 56,5% 226.053 46,4% 285.749 43,0% 313.917 36,9% 365.236 33,4% 432.290 45,5% 466.492 49,9%
người Dolgan 0 0,0% 10 0,0% 64 0,0% 408 0,0% 1.272 0,1% 1.906 0,2%
người Evenk 13.502 4,7% 10.432 2,5% 9.505 2,0% 9.097 1,4% 11.584 1,4% 14.428 1,3% 18.232 1,9% 21.008 2,2%
người Even 738 0,3% 3.133 0,8% 3.537 0,7% 6.471 1,0% 5.763 0,7% 8.668 0,8% 11.657 1,2% 15.071 1,6%
Yukaghir 396 0,1% 267 0,1% 285 0,1% 400 0,1% 526 0,1% 697 0,1% 1,097 0,1% 1,281 0,1%
người Chukchi 1298 0,4 400 0,1% 325 0,1% 387 0,1% 377 0,0% 473 0,0% 602 0,1% 670 0,1%
người Nga 30.156 10,4% 146.741 35,5% 215.328 44,2% 314.308 47,3% 429.588 50,4% 550.263 50,3% 390.671 41,2% 353.649 37,8%
người Ukraina 138 0,0% 4.229 1,0% 12.182 2,5% 20.253 3,0% 46.326 5,4% 77.114 7,0% 34.633 3,6% 20.341 2,2%
người Tatar 1.671 0,6% 4.420 1,1% 5.172 1,1% 7.678 1,2% 10.976 1,3% 17.478 1,6% 10.768 1,1% 8.122 0,9%
Khác 5.260 1,8% 10.303 2,5% 14.956 3,1% 19.770 3,0% 32.719 3,8% 59.300 5,4% 48.058 5,1% 46.124 4,9%
1 23.864 người không tự nhận dân tộc. Người ta ước tính tỷ lệ dân tộc của những người này tương đương với những người tự tuyên bố.[5]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi rơi vào tay đế quốc Nga, phần lớn cư dân tại địa phương theo đức tin Tengri giáo (những người nói tiếng Turk có nguồn gốc từ Trung Á) hay Shaman giáo (những người Cổ Châu Á bản địa) với các shaman “sáng” (lãnh đạo cộng đồng) và “tối” (chữa bệnh bằng các yếu tố tâm linh). Dưới sự kiểm soát của người Nga, người dân địa phương đã cải sang Chính Thống giáo Nga và nhận tên gọi Kitô giáo Chính Thống, song trên thực tế hầu hết cư dân vẫn theo các tôn giáo truyền thống. Dưới thời Xô viết, hầu hết hay tất cả các shaman đã qua đời mà không có người kế tục.

Hiện nay, trong khi Kitô giáo Chính Thống vẫn được ủng hộ, vẫn có các mối quan tâm và hoạt động theo hướng khôi phục lại các tôn giáo truyền thống. Năm 2008, lãnh đạo Chính Thống giáo đã mô tả thế giới quan của người dân bản địa tại nước cộng hòa là “dvoyeverie” (hệ thống tín ngưỡng kép) hay một khuy hướng hướng đến thuyết hổ lốn, do trong các sự kiện chuyển tiếp trong cuộc đời, các cư dân bản địa đôi khi mời các shaman trước, sau đó một linh mục Chính Thống giáo tiến hành nghi lễ.[6]

Theo trung tâm Thông tin Tổng thống Cộng hòa Sakha (Информационный центр при Президенте РС(Я)), nhân khẩu học tại nước cộng hòa như sau:[7]

  • Chính Thống giáo: 44,9%
  • Shaman giáo: 26,2%
  • Không tôn giáo: 23,0%
  • Phong trào Tân Giáo: 2,4%
  • Hồi giáo: 1,2%
  • Phật giáo: 1,0%
  • Tin Lành: 0,9%
  • Công giáo: 0,4%

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Công nghiệp đóng góp trên 50% tổng sản phẩm quốc nội của Sakha, chủ yếu dựa vào khai thác khoáng sản. Các hoạt động kinh doanh tập trung chủ yếu tại thủ đô Yakutsk, cũng như ở Aldan, Mirny, Neryungri, Pokrovsk và Udachny. Các ngành khai khoáng kim cương, vàng và thiếc là trung tâm trong nền kinh tế. Quặng Uranium cũng đã bắt đầu được khai thác Người Sakha nói tiếng Turk tham gia vào các hoạt động chính trị, chính quyền, tài chính, kinh tế và chăn nuôi gia súc. Còn người bản địa Cổ Châu Á thì chủ yếu là thợ săn, người đánh cá và chăn nuôi tuần lộc.

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Sakha có nguồn tài nguyên phong phú. Ở đây có nguồn dự trữ lớn các tài nguyên như dầu, chất khí, than, kim cương, vàng, bạc, thiếc, volfram và nhiều tài nguyên khác. 99% kim cương của Nga được khai thác ở Sakha.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ А. И. Гоголев. "История Якутии: (Обзор исторических событий до начала ХХ в.)". (A. I. Gogolev. History of Yakutia: Review of Historical Events to the beginning of the 20th century) Yakutsk, 1999.
  2. ^ a ă Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (2011). Предварительные итоги Всероссийской переписи населения 2010 года (Kết quả sơ bộ Điều tra dân số toàn Nga năm 2010)”. Всероссийская перепись населения 2010 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2010) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập 250-042011. 
  3. ^ Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (21 tháng 5 năm 2004). Численность населения России, субъектов Российской Федерации в составе федеральных округов, районов, городских поселений, сельских населённых пунктов – районных центров и сельских населённых пунктов с населением 3 тысячи и более человек (Dân số Nga, các chủ thể Liên bang Nga trong thành phần các vùng liên bang, các huyện, các điểm dân cư đô thị, các điểm dân cư nông thôn—các trung tâm huyện và các điểm dân cư nông thôn với dân số từ 3 nghìn người trở lên)”. Всероссийская перепись населения 2002 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2002) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  4. ^ Всесоюзная перепись населения 1989 г. Численность наличного населения союзных и автономных республик, автономных областей и округов, краёв, областей, районов, городских поселений и сёл-райцентров. (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989. Dân số hiện tại của liên bang và các cộng hòa tự trị, tỉnh và vùng tự trị, krai, tỉnh, huyện, các điểm dân cư đô thị, và các làng trung tâm huyện.)”. Всесоюзная перепись населения 1989 года (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989) (bằng tiếng Nga). Demoscope Weekly (website của Viện Nhân khẩu học Đại học Quốc gia—Trường Kinh tế. 1989. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  5. ^ http://www.perepis-2010.ru/news/detail.php?ID=6936
  6. ^ Елена Дятлова (Yelena Dyatlova) (1 tháng 10, 2008). “В Якутии господствует двоеверие (Ч. 1) (Yakutia is dominated by a dual belief system)”. “Во многих случаях нам говорили, что при совершении тех или иных обрядов или просто действий приглашают сначала шамана, потом священника. Правда, именно в таком порядке, признавая христианство чем-то высшим по отношению к местной магической языческой традиции, но это соединяя. Даже среди тех представителей якутской интеллигенции, с которыми мы общались, это стремление к синкретизму было отчетливо приметно.”  (An interview with Maxim Kozlov, a Moscow priest who had recently returned from a missionary trip down the Lena along with the Bishop of Yakutsk).
  7. ^ Современная религиозная ситуация в Республике Саха (Якутия): проблемы и перспективы Часть 1. Религиозная ситуация в Республике Саха (Якутия) в период с 1990 по 2006 годы

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]