Thổ dân Đài Loan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thổ dân Đài Loan

Thổ dân Đài Loan (tiếng Trung: 原住民; bính âm: yuánzhùmín; Wade–Giles: yüan2-chu4-min2; Bạch Thoại tự: gôan-chū-bîn, Hán Việt: Nguyên trú dân) là thuật ngữ thường dùng để chỉ thổ dân của Đài Loan. Mặc dù người bản địa Đài Loan có những thần thoại khác nhau về nguồn gốc của mình, nhưng các thông tin mới đây đã đưa ra kết luận nguồn gốc của họ có thể đã sống tại hòn đảo xấp xỉ 8.000 năm trước khi người Hán bắt đầu nhập cư đến vào thế kỷ thứ 17. Thổ dân Đài Loan thuộc Nhóm người Nam Đảo, với các đặc tính ngôn ngữ học và gien liên hệ với các dân tộc Nam Đảo khác, như những dân tộc tại Philippines, Malaysia, Indonesia, Madagascar, Polynesia, và châu Đại Dương. Vấn đề thổ dân Đài Loan không có liên hệ di truyền với những dân tộc tại lục địa châu Á đã trở thành một vấn đề đối với vị thế chính trị Đài Loan.

Trong hàng trăm năm, những người thổ dân Đài Loan đã trải qua những sự cạnh tranh về kinh tế và xung đột quân sự với những người muốn thuộc địa hóa hòn đảo. Các chính sách của chính phủ trung ương nhằm thúc đẩy đồng hóa về ngôn ngữ và văn hóa, cũng như việc tiếp tục tiếp xúc với những người khai hoang thông qua thương mại, kết hôn và các quá trình xuyên văn hóa khác, đã dẫn tới kết quả là nhiều ngôn ngữ đã rơi vào tuyệt chủng và mất đi các đặc tính văn hóa cổ truyền. Ví dụ, trong xấp xỉ 26 ngôn ngữ được biết đến của thổ dân Đài Loan (được xếp vào Nhóm ngôn ngữ Formosa), có ít nhất mười ngôn ngữ đã tuyệt chủng, 5 ngôn ngữ có nguy cơ cao (Zeitoun & Yu 2005:167) và một vài ngôn ngữ đang gặp nguy hiểm. Các ngôn ngữ này có ý nghĩa độc nhất về mặt lịch sử, khi hầu hết các nhà ngôn ngữ học coi Đài Loan là nơi xuất phát của Ngữ hệ Nam Đảo(Blust 1999).

Những người nói tiếng Nam Đảo tại Đài Loan trước đây phân bổ chủ yếu trong các khu vực dãy núi hiểm trở ở trung tâm hòn đảo và tập trung trong các ngôi làng dọc theo các đồng bằng phù sa. Năm 2009, tổng dân số của họ là khoảng 499.500 (xấp xỉ 2% tổng dân số Đài Loan). Phần lớn người thổ dân Đài Loan hiện sống tại các vùng đồi núi và các thành phố.

Những người bản địa Đài Loan phải đối mặt với các rào cản về kinh tế và xã hội, bao gồm một tỷ lệ thất nghiệp cao và trình độ giáo dục thấp. Nhiều nhóm thổ dân tích cực tìm kiếm mức độ tự quyết định cao hơn về chính trị và phát triển kinh tế từ đầu thập kỷ 1980 (Hsu 1991:95–9). Một sự hồi sinh của niềm tự hào dân tộc được những người thổ dân thể hiện bằng nhiều cách, bao gồm kết hợp các yếu tố của nền văn hóa của họ vào nhạc pop. Các nỗ lực đang được tiến hành trong các cộng đồng bản địa để phục hồi các truyền thống văn hóa và bảo tồn ngôn ngữ truyền thống của họ. Một số bộ lạc thổ dân đang phát triển các ngành công nghiệp liên quan đến du lịch và du lịch sinh thái để tăng tính tự chủ về kinh tế(Anderson 2000:283–90).

Ở mức độ cụ thể hơn,thổ dân Đài Loan bao gồm các sắc tộc sau:

Bản đồ các bộ tộc cao nguyên theo phân bổ địa lý truyền thống. Các tên được viết khác là: Pazih (Pazeh); Taroko (Truku, Seediq); Yami (Tao)
  • Amis (Ami, Pangcah) (阿美, A Mỹ)
  • Atayal (Tayal, Tayan) (泰雅, Thái Nhã)
    • Atayal (chính)
  • Bunun (布農, Bố Nông)
  • Kavalan (噶瑪蘭, Cát Mã Lan)
  • Paiwan (排灣, Bài Loan)
  • Puyuma (卑南, Ty Nam)
  • Rukai (魯凱, Lỗ Khải)
  • Saisiyat (Saisiat) (賽夏, Tái Hạ)
  • Tao (Yami) (雅美/達悟, Nhã Mỹ/Đạt Ngộ)
  • Thao (邵, Thiệu)
  • Tsou (Cou) (鄒, Trâu)
    • Bắc Tsou
    • Nam Tsou
  • Truku (Taroko) (太魯閣, Thái Lỗ Các)
    • Sediq (賽德剋, Tái Đức Khắc)
  • Yami (雅美族, Nhã Mỹ tộc)

Và một số sắc tộc khác là:

  • Babuza (貓霧捒, Miêu Vụ)
  • Basay (巴賽, Ba Tái)
  • Hoanya (洪雅, Hồng Nhã hoặc 洪安雅, Hồng Nữ Nhã)
  • Ketagalan (凱達格蘭, Khải Đạt Cách Lan)
  • Luilang (雷朗, Lôi Lãng)
  • Pazeh/Kaxabu (Pazih) (巴宰, Ba Tể hay 巴則海, Ba Tắc Hải)
  • Popora (巴布拉, Ba Bố Lạp)
  • Qauqaut (猴猴, Hầu Hầu)
  • Siraya (西拉雅, Tây Lạp Nhã)
  • Taokas (道卡斯, Đạo Ca Tư)
  • Trobiawan (多囉美, Đa La Mỹ hoặc 多囉美遠, Đa La Mỹ Viễn)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Aborigines of Taiwan tại Wikimedia Commons

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]