Ivan Alekseyevich Bunin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Ivan Alekseyevich Bunin

'
Sinh ngày: 22 tháng 10 năm 1870
tại Voronezh, Đế chế Nga
Mất ngày: 8 tháng 11, 1953
tại Paris, Pháp
Nghề nghiệp: Nhà văn
Quốc tịch: Nga
Huy chương giải Nobel

Ivan Alekseyevich Bunin (tiếng Nga: Иван Алексеевич Бунин; 22 tháng 10 năm 1870 - 8 tháng 11 năm 1953) là nhà văn, nhà thơ Nga đoạt Giải Nobel Văn học năm 1933.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử

Ivan Bunin sinh ở vùng trung Nga, tuổi thơ sống ở miền quê tĩnh lặng của tỉnh Orlov. Thời trẻ ông làm thợ sửa bản in, viết báo. Năm 1891 in tập thơ đầu tay Dưới bầu trời rộng mở (Под открытым небом), năm 1897 xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác (На край света и другие рассказы), được giới phê bình đánh giá cao. Năm 1889 Bunin rời quê, làm nhiều nghề kiếm sống như thợ sửa bản in thử, thủ thư, làm báo... Niềm đam mê hội họa và âm nhạc đã ảnh hưởng tới sáng tác văn học sau này của ông. Bunin làm thơ, viết văn khá sớm, sự nghiệp văn chương của ông chủ yếu nổi tiếng về văn xuôi với các truyện ngắn và truyện vừa.

Tác phẩm đầu tiên của ông là bài thơ Bên mộ Nadson - tên một nhà thơ Nga (Semën Yakovlevich Nadson). Năm 1891 ông xuất bản tập thơ trữ tình đầu tiên Những bài thơ (1891) ở Orlov. Thơ đã mở đầu văn nghiệp và còn đeo đẳng mãi ngòi bút của ông đến tận cuối đời. Năm 1894 ông in truyện ngắn đầu tay Tanka. Năm 1897, xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác (На край света и другие рассказы), viết về sự suy tàn của tầng lớp quý tộc và cảnh sống cơ cực của người nông dân Nga, được giới phê bình khen ngợi.

Tác phẩm của ông không đề cập đến các vấn đề chính trị. Ông không theo một trường phái nào như suy đồi, tượng trưng, lãng mạn hay tự nhiên chủ nghĩa. Ông sống chủ yếu ở nông thôn, đi du lịch nhiều nơi ở Nga và các nước trên thế giới như Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Hi Lạp, Palestine, Tunisia, Ai Cập và các vùng nhiệt đới... Ông quan tâm nhiều đến các vấn đề về tâm lý, tôn giáo, đạo đức và lịch sử.

Năm 1909 Bunin được bầu làm viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Năm 1910 ông xuất bản thiên truyện Làng (Деревня), một bức tranh chân thực về cuộc sống nông thôn nước Nga; tác phẩm trở thành chủ đề bàn luận sôi nổi của giới trí thức Nga về thực chất xã hội Nga và chỉ trong một thời gian rất ngắn đã khiến Bunin nổi tiếng; thành công này được tiếp tục phát huy ở các tác phẩm tiếp theo.

Sau Cách mạng tháng Mười Nga ông di cư sang Pháp và tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị. Tập truyện Những con đường rợp bóng (Темные аллеи) được viết trong thời kỳ này. Ngoài văn, thơ, Bunin còn nổi tiếng là một dịch giả thơ bậc thầy. Bản dịch The Song of Hiawatha (Bài ca về Hiawatha) của Henry Wadsworth Longfellow được tặng giải thưởng Puskin.

Bunin là nhà văn Nga đầu tiên được nhận giải Nobel Văn học. Ông mất ở Pháp. Hiện nay (2006),ở Việt Nam đã in tập truyện "Những lối đi dưới hàng cây tăm tối" của Bunin, do Hà Ngọc dịch.

[sửa] Tác phẩm

  • Под открытым небом (Dưới bầu trời rộng mở, 1891), tập thơ
  • На край света и другие рассказы (Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác, 1897), tập truyện
  • Антоновские яблоки (Những quả táo Antonov, 1900), truyện ngắn
  • Листопад (Lá rụng, 1901), tập thơ
  • Деревня (Làng, 1910), truyện vừa
  • Суходол (Sukhodol, 1911), truyện vừa
  • Господин из Сан-Франциско (Quý ông từ San Francisco, 1915), truyện vừa
  • Легкое дыхание (Hơi thở nhẹ, 1916), truyện ngắn
  • Роза Иерихона (Hoa hồng Jericho, 1924), tập truyện
  • Митина любовь (Tình yêu của Mitia, 1926), truyện vừa
  • Окаянные дни (Những ngày đáng nguyền rủa, 1926), nhật kí
  • Жизнь Арсеньева (Cuộc đời Arseniev, 1930), tiểu thuyết
  • Освобождение Толстого (Giải phóng Tolstoi, 1937), tiểu luận
  • Темные аллеи (Những con đường rợp bóng, 1943), tập truyện
  • Воспоминания (Hồi tưởng, 1950), tập kí

[sửa] Một số bài thơ

Счастлив я, когда ты голубые
 
Счастлив я, когда ты голубые
Очи поднимаешь на меня:
Светят в них надежды молодые -
Небеса безоблачного дня.
 
Горько мне, когда ты, опуская
Темные ресницы, замолчишь:
Любишь ты, сама того не зная,
И любовь застенчиво таишь.
 
Но всегда, везде и неизменно
Близ тебя светла душа моя...
Милый друг! О, будь благословенна
Красота и молодость твоя!
 
Чужая
 
Ты чужая, но любишь,
Любишь только меня.
Ты меня не забудешь
До последнего дня.
 
Ты покорно и скромно
Шла за ним от венца.
Но лицо ты склонила -
Он не видел лица.
 
Ты с ним женщиной стала,
Но не девушка ль ты?
Сколько в каждом движенье
Простоты, красоты!
 
Будут снова измены...
Но один только раз
Так застенчиво светит
Нежность любящих глаз.
 
Ты и скрыть не умеешь,
Что ему ты чужда...
Ты меня не забудешь
Никогда, никогда!
Khi đôi mắt màu xanh
 
Anh hạnh phúc khi đôi mắt màu xanh
Mắt màu xanh em ngước nhìn anh đó
Niềm hy vọng trong mắt em rạng rỡ
Bầu trời trong veo của một ngày xanh.
 
Và đắng cay khi đôi mắt màu xanh
Rủ hàng mi đen và em im bặt
Yêu anh không, tự mình, em chẳng biết
Còn tình yêu e ấp, cố giấu mình.
 
Nhưng ở khắp nơi và chung thủy, thường xuyên
Khi gần em tâm hồn anh tỏa sáng…
Người yêu ơi hãy mãi là cao thượng
Sắc đẹp tuyệt vời và tuổi trẻ của em!
 
Người xa lạ
 
Em là người xa lạ
Nhưng yêu chỉ mình anh
Và em sẽ không quên
Cho đến ngày cuối tận.
 
Thế rồi em ngoan ngoãn
Lặng lẽ theo người ta
Nhưng mặt em cúi xuống
Người ấy chẳng nhận ra.
 
Em trở thành phụ nữ
Nhưng thiếu nữ với anh
Trong bước đi của mình
Sắc đẹp đầy quyến rũ!
 
Sẽ có điều phụ bạc...
Nhưng chỉ có một lần
Khi e ấp cháy lên
Ngọn lửa tình trong mắt.
 
Em không biết giấu đi
Rằng với người – xa lạ
Và sẽ không bao giờ
Bao giờ quên anh cả!
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

[sửa] Liên kết ngoài


Công cụ cá nhân