Địa chất cấu tạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Địa chất cấu tạo nghiên cứu về sự phân bố của đá trong không gian ba chiều nhằm tìm hiểu lịch sử biến dạng của chúng. Mục tiêu đầu tiên của địa chất cấu tạo là sử dụng các kết quả đo đạc về hình học của các đá hiện tại để lập lại lịch sử biến dạng (ứng suất biến dạng) của các đá in the rocks, và sau đó là hiểu về trường ứng suất thông qua nghiên cứu các dạng hình học và ứng suất quan sát được ngoài thực tế. Các hiểu biết về động lực của trường ứng suất này có thể liên hệ với các sự kiện quan trọng của địa chất khu vực trong quá khứ; mục tiêu chung là tìm hiểuu về tiến hóa cấu tạo của một khu vực cụ thể đênca1c kiểu mẫu biến dạng trên đá trong khu vực rộng hơn (như sự tạo thành các dãy núi, rift) gây ra bởi kiến tạo mảng.

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Việc nghiên cứu về cấu tạo địa chất là ứng dụng quan trọng chủ yếu trong kinh tế địa chất, và cả trong địa chất dầu khíđịa chất mỏ. Địa tầng của các đá bị đứt gãy và uốn nếp thường tạo thành các bẫy tích tụ và tập trung các chất lỏng như dầu mỏkhí thiên nhiên. Các khu vực có cấu tạo địa chất phức tạp và bị phát triển đứt gãy được ghi nhận là các đới có tính thấm cao đối với chất lỏng như nhiệt dịch và tạo ra các khu vực sự tập trung quặng kim loại quý và kim loại thường. Các đới đứt gãy và nứt nẻ thường xuất hiện liên quan đến các đá macma xâm nhập. Chúng cũng thường xuất hiện xung quanh các phức hợp san hô vòng và các dạng địa hình sụp lún như các hố sụt. Các tích tụ vàng, bạc, đồng, chì, kẽm và các kim loại khác thường ở những khu vực có cấu tạo địa chất phức tạp.

Địa chất cấu tạo là một phần của kỹ thuật địa chất, nó quan tâm đến các tính đất vật lý và cơ học của đá tự nhiên. Các đá xuất hiện các đứt gãy, nếp uốn, thớ chẻ và khe nứt là các đá kém bền và chúng có thể ảnh hưởng đến sự ổn định của các công trình xây dựng như đập, đường cắt qua núi, mỏ lộ thiênmỏ hầm lò hoặc đường hầm.

Rủi ro địa kỹ thuật, bao gồm cả rủi ro động đất có thể chỉ được khảo sát thông qua sự kết hợp giữa địa chất cấu tạo và địa mạo học. Thêm vào đó, các khu vực địa hình karst bên dưới mặt đất phát triển các hang ngầm và có khả năng xảy ra các hố sụt cũng là đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học quan tâm đến lĩnh vực này. Các khu vực có địa hình dốc có khả năng xả ra tai biến trượt đất.

Kiến tạo mảng cũng được coi là địa chất cấu tạo trên phạm vi rộng lớn, và thường đề cập đến các ảnh hưởng của sự va mảng về mặc cấu trúc và các đặc điểm kiến tạo mảng khác.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • G.H. Davis và S.J. Reynolds (1996). The structural geology of rocks and regions. Ấn bản lần thứ 2. Wiley. ISBN 047 1526215. 
  • C.W. Passchier và R.A.J. Trouw (1998). Microtectonics. Berlin: Springer. ISBN 3-540-58713-6. 
  • B.A. van der Pluijm và S. Marshak (2004). Earth Structure - An Introduction to Structural Geology and Tectonics. Ấn bản lần thứ 2 [1]. New York: W.W. Norton. tr. 656. ISBN 0-393-92467-X. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]