Adolf Kanone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Adolf Kanone
Bundesarchiv Bild 101I-364-2314-16A, Atlantikwall, Batterie "Lindemann".jpg
Batterie "Lindemann", 1942
Loại Pháo hải quân
Lược sử hoạt động
Trang bị 1942
Quốc gia sử dụng  Đức Quốc Xã
Sử dụng trong Thế chiến II
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Krupp
Năm thiết kế 1942
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 1,475 tấn
Cỡ nòng  21,5 m

Đạn L/4.2, L/4.8 and L/4.4
Đạn trọng lượng 1,030 kg (L/4.8 và L/4.4), 600kg (L/4.2)
Cỡ đạn 406 mm
Góc ngẩng 52 độ
Tốc độ bắn 2 phút/1 viên
Sơ tốc 1.000m/s (đạn tầm xa), 810 m/s (đạn bình thường)
Tầm bắn hiệu quả 56km (đạn tầm xa), 42km (đạn bình thường)

40.6 cm Schnelladekanone C/34 hoặc Adolf Kanone(Pháo Adolf) là tên một loại pháo hải quân được thiết kế vào năm 1934 bởi Krupp.Adolf Kanone được thiết kế để trang bị cho các lớp tàu chiến loại H và J.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Được thiết kế để trở thành ụ pháo tự hành trên bờ biển hoặc pháo hải quân nên Adolf Kanone có khá nhiều đặc điểm khác các loại pháo khác như:tay cầm điều khiển có ở cả bên trái và phải(thuận cho người điều khiển), ống ngắm xa và tốt, có thể nâng nòng đến hơn 52 độ và đặc biệt nó có thể tự điều khiển bởi hơn 10 người(trong trường hợp trên bờ biển).Nòng của Adolf Kanone dài đến hơn 20 m.Trong điều kiện thường nó có thể nâng nòng hết cỡ 52 độ, bắn xa 56 km với loại đạn đặc biệt Adolf(nặng 600 kg).Tỉ lệ bắn là 2 phút/1 viên.

Thông số kĩ thuật chi tiết[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm thiết kế:1934.
  • Năm xuất xưởng:1942.
  • Cỡ nòng:406 mm.
  • Chiều dài nòng:21.5 m.
  • Trọng lượng nòng:158 tấn.
  • Tỉ lệ bắn:2 phút/1 viên.
  • Trọng lượng đạn:
    • Loại I:L/4.8 và L/4.4-nặng 1020–1030 kg).
    • Loại II:Adolf(đạn tầm xa)-600 kg.
  • Trọng lượng chất nổ đẩy:302 kg-loại đạn thường;312 kg-loại đạn tầm xa.
  • Tầm bắn tối đa:56.000 m.
  • Sơ tốc đạn:810 m/s-loại đạn thường;1000 m/s-loại đạn tầm xa.
  • Gắn trên:2 tháp pháo Drh LC/34.

Lược sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Theo như dự định ban đầu, Adolf Kanone sẽ được lắp trên các chiến hạm lớp H và J(nặng 56.000 tấn), nhưng về sau khi biết việc sản xuất lớp chiến hạm H và J là không thể được nên Adolf Kanone đã được chuyển sang sản xuất theo dòng pháo tự hành lắp dọc bờ biển.Có khoảng 11 khẩu Adolf Kanone đã được sản xuất trong thời gian thế chiến II, chúng được bố trí chủ yếu ở Pháp, Na UyBa Lan.

Hoạt động tại Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Ba khẩu Adolf Kanone đầu tiên được di chuyển và lắp ráp tại Hel Peninsula, Ba Lan vào năm 1940 để bảo vệ vịnh Danzig.Cả ba khẩu bắn về phía biển trong một khoảng thời gian ngắn:5/1941-6/1941.Sau đó được chuyển đến Sangatte, Pháp.Số Adolf Kanone đều được sử dụng để bắn phá và ngăn cản các cuộc tiến công của tàu thuyền Anh.

Hoạt động tại Na Uy[sửa | sửa mã nguồn]

Có tổng cộng 7 khẩu Adolf Kanone được chuyển đến Na Uy được phân thành hai sư đoàn:

  • Sư đoàn pháo Dietl, tọa lạc trên đảo Engeløya, Steigen.Được bảo vệ bởi sư đoàn bộ binh MKB 4/MAA 516.
  • Sư đoàn pháo Theo, tọa lạc tại Trondenes gần Harstad.Được bảo vệ bởi sư đoàn bộ binh MKB 5/MAA 511.

Vào cuối cuộc chiến số pháo tại Trondenes bị quân đội Na Uy bắt giữ(khi bắt số pháo này còn đến 1227 viên đạn).Số Adolf Kanone được bắn lần cuối vào năm 1957 và chính thức nghỉ hưu năm 1964.Sư đoàn pháo Dietl gồm ba khẩu Adolf Kanone cũng bị quân đội Na Uy bắt giữ vào cuối cuộc chiến.Số pháo này được bán cho các viện bảo tàng vào năm 1956.

Hoạt động tại Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Adolf Kanone tại Pháp, 1942

Số Adolf Kanone hoạt động tại Pháp chủ yếu được di chuyển từ sư đoàn pháo hạng nặng Schleswig Holstein sang.Toàn bộ sư đoàn gồm 3 khẩu Adolf Kanone-nơi đặt được bao bọc bởi một bức tường bê-tông dày 4 mét.Sư đoàn này đã bắn hơn 2226 viên đạn về phia Dover trong khoảng từ năm 1940-1941.Máy bay Anh không thể tiếp cận khu vực này một phần là vì địa điểm đặt pháo tương đối kín và có nguyên một sư đoàn pháo phòng không hỗ trợ.Nhưng đến ngày 3/9/1944, bất ngờ pháo Bruno(tên của một trong ba khẩu pháo Adolf Kanone) bị dính đạn từ một tàu hỏa của Anh.Sau đó vài tháng thì số pháo này bị Đồng Minh bắt giữ.

Loại đạn sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Một viên đạn đặc biệt Adolph so sánh với một viên đạn thường Harstad.
  • L/4.4 m Bd Z Hb (AP)-1030 kg:đầu đạn nặng, sức công phá cao.
  • L/4.8 m KZ m Hb (HE)-1030 kg:khối lượng đầu đạn đẩy nặng, sức công phá cao.
  • L/4.6 m Bd Z Hb (SAP)-1030 kg:khối lượng đạn công phá lớn.
  • L/4.2 m KZ m Hb (HE)-600 kg:loại đạn đặc biệt, bắn tầm xa, sức công phá cao.
  • L/4.1 m KZ m Hb(HE)-610 kg:đạn nổ, sức công phá cao.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hogg, Ian V. (2002). German Artillery of World War Two. London: Greenhill Books. ISBN 1-85367-480-X. 
  • Schmeelke, Karl-Heinz; Schmeelke, Michael (1994). Fortress Europe: The Atlantic Wall Guns. Schiffer Publishing. ISBN 0-88740-525-8. 
  • Harald Isachsen "The Adolf Guns" In the batteries at Dietl/Steigen, Theo/Trondenes, Lindemann/Calais, Schleswig-Holstein/Hel = | id = ISBN 978-82-998024-0-6
  • Harald Isachsen "Die Adolfkanonen" In den batterien Dietl/Steigen, Theo/Trondenes, Lindemann/Calais, Schleswig-Holstein/Hel = | id = ISBN 978-82-998024-1-3

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]