Bò Hà Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một con bò sữa thuộc giống bò Hà Lan

Bò Hà Lan (tên gốc Bò Holstein Friz, đọc là Hôn – xtail[1] hoặc Holstein friezian- viết tắt HF) là một giống bò sữa có nguồn gốc từ Hà Lan gần 2.000 năm trước đây. Bắt nguồn từ bò đen và trắng của BatavianFriezians được phối giống và loại thải nhằm tạo ra giống có sản lượng sữa cao nhất và có khả năng sử dụng vùng đất hạn hẹp của đồng bằng sông Rhine hữu hiệu nhất. Cuối cùng qua quá trình tiến hoá về mặt di truyền đã tạo thành giống bò sữa trắng đen năng suất cao mang tên Holstein Friezian[2].

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Bò lang trắng đỏ

Bò Hà Lan chủ yếu có màu lang trắng đen, nhưng vẫn có con lang trắng đỏ. Bò cái có thân hình chắc chắn gần như hình thang, tầm vóc lớn, to, bầu vú phát triển,[3] mắn sinh, hiền lành, và có khả năng sản xuất sữa rất cao. Bò sữa thuần Hà Lan có tiềm năng cho sữa cao hơn các giống bò sữa khác[4]. Bò Hà Lan cho trung bình 50 lít, mỗi ngày, chu kỳ 300 ngày cho 10.000 – 15.000 lít, khi nhập vào những nước nhiệt đới như Việt Nam, cho mỗi ngày trung bình 15 lít, chu kỳ 300 ngày cho 3.600 – 4.000 lít sữa tươi[1].

Bò đực có thân hình chữ nhật, sừng nhỏ, yếm bé. Bò Hà Lan Mỹ có tầm vóc to con nhất. Khối lượng bò đực: 600 kg/con và bò cái: 550 kg/con. Bò có thể bắt đầu phối giống lúc 15-18 tháng tuổi. Năng suất sữa 305 ngày của bò Hà Lan Mỹ là 12.000 kg sữa với 3,66 % mỡ, bò Cuba là 3.800-4.200 kg với 3,4 % mỡ và bò Úc là 5.000 kg sữa.[3] Đây là giống bò thích nghi rất tốt ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới. Mặc dù có nguồn gốc ôn đới nhưng đã được nuôi lai tạo thành những dòng có thể nuôi được ở các nước nhiệt đới.

Lai giống[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nước ở vùng nóng đã nhập bò Hà Lan về để lai tạo với bò địa phương hoặc nhân thuần nhằm mục đích sản xuất sữa. Tuy nhiên, khi chuyển bò sữa ôn đới cao sản HF vào nuôi ở môi trường nóng thường cho kết quả thấp hơn vì Bò sữa HF cũng như các gia súc khác, chúng thích nghi một cách chậm chạp với môi trường mới do đó khi chuyển đột ngột chúng vào một môi trường quá khác biệt sẽ tạo ra sự căng thẳng quá lớn để chúng có thể thích nghi. Những con bò Hà Lan mới nhập về vùng nhiệt đới gặp thời tiết nóng làm cho khả năng đề kháng bệnh tật thấp, vì vậy bò dễ bị bệnh[4].

Bên cạnh đó, trong môi trường ẩm độ cao các loại côn trùng như ruồi, muỗi, ve rất nhiều, chúng không chỉ tấn công gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe của bò mà còn là trung gian truyền bệnh kí sinh trùng đường máu rất nguy hiểm. Ở những nơi mà thức ăn xanh cung cấp cho bò là cỏ cắt nơi đồng trũng, ven kênh rạch thì có nguy cơ cỏ này mang mầm bệnh như sán lá gan và kí sinh trùng đường ruột khác. Mặt khác, có sự thiếu kinh nghiệm trong chăn nuôi bò sữa Hà Lan cao sản ở hầu hết các chủ trại. Có nhiều chủ trại lần đầu tiên nuôi bò, không biết phát hiện bò lên giống, phát hiện viêm vú, không biết thế nào là căng thẳng nhiệt ở bò sữa từ đó đã làm tăng thêm hậu quả căng thẳng ở bò HF khi chuyển vùng[4].

Chăn nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

Bò Hà Lan đang gặm cỏ

Ở Úc, bò Hà Lan đuợc nuôi thành bầy đàn, người ta chăn thả chúng trên đồng cỏ rộng mênh mông như thảo nguyên, trên đó có các loại cỏ có chất lượng, bò được tự do lựa chọn loại thức ăn mà chúng ưa thích. Mùa khô cỏ trên đồng cỏ thiếu hụt chúng được bổ sung thêm cỏ khô, cỏ ủ dự trữ chất lượng cao. Tại Úc, khí hậu ở đây ôn hoà (nhiệt độ trung bình cao nhất 25OC vào khoảng tháng 12 và tháng 1, tháng 6-7 nhiệt độ thấp dưới 15OC, ẩm độ trung bình khoảng 60%. Lượng mưa trung bình 1185mm, thấp nhất vào tháng 6-9). Nhiều trang trại nuôi cả ngàn con bò sữa chỉ nhốt trong rào quây mà không cần làm chuồng. Những con bò này ăn ngủ trên đồng cỏ, chỉ về chuồng khi vắt sữa, ở đây nuôi bò là một nghề truyền thống[4].

Trong chăn nuôi ở một số nước nhiệt đới, có khuyến cáo cho rằng không nên chọn mua bò Hà Lan thuần vì bò sữa Hà Lan thuần hoặc bò lai có tỷ lệ máu bò Hà Lan càng cao (bò F3, F4-7/8 và 15/16 máu bò Hà Lan) thì càng “ khó tính, càng kém chịu đựng được điều kiện nóng ẩm và kham khổ do thiếu thốn thức ăn. Khi nhiệt độ lên trên 340C, bò có tỷ lệ máu bò Hà Lan cao thường thở dốc, xù lông, năng suất sữa giảm. Đồng thời tỷ lệ nhiễm bệnh tăng, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng đường máu và bệnh tụ huyết trùng. Việc chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam cho thấy bò sữa Hà Lan thuần thích hợp nhất ở một số vùng như Mộc Châu - Sơn La, Đức Trọng - Lâm Đồng - nơi có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân hàng năm 210C[5].

Nhiệt độ môi trường thích hợp cho bò sữa được ghi nhận là từ âm 40C đến 220C, trong đó Nhiệt độ tới hạn của môi trường đối với bò HF là 27OC, khi trời nóng bò Hà Lan giảm ăn 10-15%, để đảm bảo cho bò ăn đủ dinh dưỡng khi khả năng ăn vào giảm, người ta những loại thức ăn có chất lượng cao. Khẩu phần ăn có tổng vật chất khô thấp nhưng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong 1 kg chất khô phải cao hơn 10-15% so với bình thường. Đồng thời người chăn nuôi phải luôn có đủ nước sạch, mát cho bò uống tự do suốt ngày đêm. Bò Hà Lan chưa thích nghi với môi trường nóng có nhu cầu nước cao hơn so với bò đã thích nghi[4][6].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]