Bạch Liêu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bạch Liêu (chữ Hán: 白遼, một số tài liệu ghi là Bạch Liên[cần dẫn nguồn]) sinh năm 1236[cần dẫn nguồn] quê ở làng Yên Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu[1] (nay thuộc huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, mất năm 1315[cần dẫn nguồn]. Ông là người thông minh nhớ lâu, đọc sách ngàn dòng một mạch[2]. Ông đỗ trạng nguyên năm Thiệu Long thứ 9 (1266)đời vua Trần Thánh Tông, là vị tổ khai khoa của xứ Nghệ, nhưng không ra làm quan[2]. Ông ở lại làm môn khách giúp Chiêu Minh VươngTrần Quang Khải trấn Nghệ An[2]. Với tư cách là một quân sư, ông đã giúp Trần Quang Khải thảo ra kế hoạch về tuyển quân và dự trữ lương thực, củng cố biên giới phía Nam (gọi là Biến pháp tam chương)[cần dẫn nguồn] góp phần quan trọng trong việc đánh thắng quân Nguyên Mông. Ông được cử theo đoàn sứ bộ sang nhà Nguyên, bằng trí tuệ uyên bác và tài ngoại giao, ông đã góp phần thiết lập quan hệ ngoại giao hoà hiếu giữa 2 nước[cần dẫn nguồn].

Khi tuổi đã cao, ông về quê mở trường dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho dân[cần dẫn nguồn]. Ông thọ 79 tuổi[cần dẫn nguồn], được an táng tại quê nhà. Ông được vua phong cho làm Phúc thần, hiệu là Đương Cảnh thành hoàng Đại Vương[1]. Sau đó, hậu duệ di cư vào trấn Nghệ An (núi Thành) xã Hưng Phú - huyện Hưng Nguyên, đã dời mộ ông vào đồng Phù Quang, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc.

Do có công với đất nước, ông đã được các triều Lê, Nguyễn sắc phong Thần mộ. Hiện Đền thờ trạng nguyên Bạch Liêu tại xã Hưng Phú - huyện Hưng Nguyên - tỉnh Nghệ An, đã được Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia, theo quyết định số 2015/VH-QĐ ngày 16 tháng 12 năm 1993.[3].

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]