Nguyễn Quan Quang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Quan Quang (chữ Hán: 阮觀光, ?-?), theo Danh sách trạng nguyên Việt Nam[1] là người đỗ đầu khoa thi Tiến sĩ năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 3 (Giáp Ngọ, 1234), đời vua Trần Thái Tông, tuy nhiên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng như Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục không thấy chép việc này, ngoài câu 1236...Mùa thu, tháng 8, chọn các nho sinh đã thi đỗ vào chầu, sau làm định lệ.[2]1236...Tháng 8, mùa thu. Tuyển nho sinh đã thi đỗ vào hầu vua.[3], nhưng có thể đây là các nho sinh đã thi đỗ khoa Thiên Ứng Chính Bình thứ nhất (1232). Tác giả Vũ Xuân Thảo trong bài Vài số liệu, tư liệu chưa chính xác trong cuốn "Những ông nghè ông cống triều Nguyễn" đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 67, tháng 9 năm 1999 đã cho rằng Trạng nguyên đầu tiên là Nguyễn Quan Quang, đỗ khoa Bính Ngọ (1246)[cần dẫn nguồn]. Bia số 1 tại Văn miếu Bắc Ninh[4] cũng ghi nhận như tác giả Vũ Xuân Thảo, nhưng năm này trong Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng không thấy ghi chép gì.

Có tài liệu như Các nhà khoa bảng Việt Nam (dẫn theo Hồng Đức [5]) lại tính Nguyễn Quan Quang là vị trạng nguyên đầu tiên: Phải tới khoa thi thứ 6 (khoa Đại tỉ thủ sĩ) vào năm Bính Ngọ (1246), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 15, đời vua Trần Thái Tông mới đặt danh hiệu Tam khôi (Trạng nguyên – Bảng nhãn – Thám hoa) và Nguyễn Quan Quang đã đậu Trạng nguyên, Phạm Văn Tuấn đậu Bảng nhãn, Vương Hữu Phùng đậu Thám hoa.

Trong danh sách 47 vị trạng nguyên treo ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) thì Nguyễn Quan Quang được ghi đầu tiên rồi sau đó mới là Nguyễn Hiền!

Ông là người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, Kinh Bắc[1][4] (huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Làm quan đến chức Bộc xạ, tặng hàm Đại Tư không[1][4].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Các thủ khoa Đại Việt
Lê Văn Thịnh | Mạc Hiển Tích | Bùi Quốc Khái | Nguyễn Công Bình | Trương Hanh | Lưu Diễm | Nguyễn Quan Quang | Lưu Miễn | Vương Giát