Bao dung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bao dung (tiếng Anh:toleration) là lòng tôn trọng sự khác biệt của người khác đối với mình trong phong tục tập quán, quan niệm sống, niềm tin và tôn giáo, chủng tộc và cách thức hành động, cho phép người khác làm những chuyện mà bản thân mình không tán thành.

Khác biệt giữa "bao dung" và "khoan dung"[sửa | sửa mã nguồn]

Bao dung là sự chấp nhận và tôn trọng con người là đa dạng về đủ mọi mặt, còn khoan dung là đức tính rộng lượng, dễ dàng thông cảm, chấp nhận và tha thứ khiếm khuyết cũng như lỗi lầm của người khác. Người khoan dung cũng có thể không bao dung khi không tôn trọng những gì mà mình không đồng ý. Còn người bao dung thì luôn có tính khoan dung vì đã chấp nhận sự khác biệt của người khác, nên cũng dễ thông cảm và tha thứ. coi như khoan dung là một phần của bao dung, bao dung có ý nghĩa rộng lớn và tổng quát hơn.

Bao dung với những kẻ không bao dung[sửa | sửa mã nguồn]

Các triết gia Walzer, Karl Popper[1] and John Rawls[2] đã có một cuộc thảo luận với nhau về sự nghịch lý về việc bao dung đối với những kẻ không bao dung. Walzer đặt lên câu hỏi, "Chúng ta có nên bao dung đối với những kẻ không bao dung?" Ông ta nhận thấy rằng hầu hết các giáo phái nhỏ mà được hưởng lợi từ sự bao dung, lại thường không bao dung, ít nhất là về một số phương diện.[3] Quan điểm của Rawls là các giáo phái không bao dung nên được chấp nhận trong một xã hội bao dung, ngoại trừ khi các giáo phái đó trực tiếp đe dọa sự an ninh của xã hội. Quan điểm đó dựa trên nền tảng vững bền của một xã hội bao dung, mà những thành viên của giáo phái không bao dung dần dần rồi cũng sẽ hấp thụ được tinh thần bao dung của xã hội.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Karl Popper, The Open Society and Its Enemies, Vol. 1, Notes to the Chapters: Ch. 7, Note 4.
  2. ^ John Rawls, A Theory of Justice, Harvard University Press, 1971, p. 216.
  3. ^ Michael Walzer, On Toleration, (New Haven: Yale University Press 1997) pp. 80-81 ISBN 0-300-07600-2