Cục Quản lý Energy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Cục Quản lý Energy (エネルギー管理局 Enerugī Kanrikyoku?) là một tổ chức hư cấu xuất hiện trong loạt phim Tokumei Sentai Go-Busters. Bộ đặc nhiệm (特命部 Tokumeibu?) của họ là chủ quản của Go-Busters (ゴーバスターズ Gōbasutāzu?), các nhân vật chính trong loạt phim. Nhiệm vụ của họ là bảo vệ nguồn năng lượng hư cấu được gọi là Enetron (エネトロン Enetoron?) khỏi tay tổ chức hắc ám tên là Vaglass. Căn cứ của họ được đặt sâu dưới lòng đất 70m, với dạng tổ kiến và có lối thông với bất cứ phần nào của thành phố.

Go-Busters và Buddyloid[sửa | sửa mã nguồn]

3 Go-Busters lần đầu tiên xuất hiện trong Kaizoku Sentai Gokaiger VS. Uchū Keiji Gavan: THE MOVIE, cùng với logo của họ xuất hiện sau lưng. Từ trái sang phải: Blue Buster, Red Buster. Yellow Buster.

Mười ba năm trước, một virus máy tính tên Messiah đã tấn công vào một viện nghiên cứu của Cục tên là Viện Nghiên cứu Dịch Chuyển, chiếm quyền điều khiển ở đó trước khi bị tống vào Á Không Gian (亜空間 Akūkan?). Trong sự kiện đó, ba đứa trẻ đã thoát khỏi Viện với một chương trình diệt virus gọi là Vaccine bằng một cách nào đó được cài đặt trong cơ thể, ban cho chúng Chou Power (超パワー Chō Pawā?, Siêu Sức Mạnh) cùng với các điểm yếu đi kèm được gọi là Weakpoint (ウイークポイント Uīkupointo?). Những đứa trẻ đó được huấn luyện cùng với các Buddyloid (バディロイド Badiroido?) để trở thành các đặc nhiệm cho Bộ đặc nhiệm thuộc Cục Quản lý Energy, và sau mười ba năm, chiến đấu với tổ chức Vaglass, thuộc hạ của Messiah. Họ hoạt động như một nhóm mang tên Go-Busters.

Sakurada Hiromu[sửa | sửa mã nguồn]

Sakurada Hiromu (桜田 ヒロム Sakurada Hiromu?) là một chàng trai 20 tuổi mang danh hiệu Red Buster (レッドバスター Reddo Basutā?). Chou Power của Hiromu cho phép anh di chuyển siêu tốc. Đổi lại, Weak Point sẽ làm anh ta đông cứng nếu bị sợ hãi. Do thời ấu, anh bị nhốt trong chuồng gà, nên anh đã sản sinh ra sự sợ hãi gà, dù thực tế hay tưởng tượng. Khi sử dụng dữ liệu của Nick để tạo ra bộ giáp Protector và biến mình thành Red Buster Powered Custom (レッドバスター パワードカスタム Reddo Basutā Pawādo Kasutamu?), siêu tốc độ của Hiromu được tăng cường và anh có thể thực hiện tuyệt chiêu Volcanick Attack (ボルカニックアタック Borukanikku Atakku?) để kết liễu kẻ thù.[1] Khi kết hợp sức mạnh với các Go-Busters khác, anh có thể thực hiện tuyệt chiêu Volcanick All Busters Attack (ボルカニックオールバスターズアタック Borukanikku Ōru Basutāzu Atakku?).

Hiromu Sakurada được thể hiện bởi Suzuki Katsuhiro (鈴木 勝大 Suzuki Katsuhiro?).[2][3][4][5] Khi còn nhỏ, anh do Hashizume Ryu (橋爪 龍 Hashizume Ryū?) thủ vai.

Cheeda Nick[sửa | sửa mã nguồn]

Cheeda Nick (チダ・ニック Chida Nikku?) là Buddyloid của Hiromu có dạng robot hình người kiểu báo Cheetah. Nick có thể biến hình thành Hình thức Bike (バイク形態 Baiku Keitai?) và là phương tiên di chuyển của Hiromu. Dù Nick là một siêu robot, cậu ta không thể tự định hướng và thường đi lạc đường.

Cheeda Nick được lồng tiếng bởi Fujiwara Keiji (藤原 啓治 Fujiwara Keiji?).

Iwasaki Ryuji[sửa | sửa mã nguồn]

Iwasaki Ryuji (岩崎 リュウジ Iwasaki Ryūji?) là một chàng trai 28 tuổi mang danh hiệu Blue Buster (ブルーバスター Burū Basutā?). Anh ta là một người bình tĩnh và hiếm khi tức giận. Chou Power của anh cho anh siêu sức mạnh ở hai cánh tay. Weakpoint của anh sẽ khiến anh bị quá nhiệt nếu sử dụng Chou Power quá nhiều. Khi bị quá nhiệt, anh sẽ tấn công điên cuồng bất phân địch - bạn. He cannot be stopped once overheated and one can only wait until he shuts down on his own. Anh cũng sẽ dễ bị quá nhiệt nếu môi trường xung quanh quá nóng. Khi biến thành Blue Buster Powered Custom (ブルーバスター パワードカスタム Burū Basutā Pawādo Kasutamu?), mặc áo giáp Protector tạo bởi dữ liệu của Gorisaki, siêu sức mạnh của Ryuji được khuyết đại và anh có thể phân tích và copy ra vật thể xung quanh. Anh cũng có thể phát động tuyệt chiêu Gorillarge Punch (ゴリラージパンチ Gorirāji Panchi?) attack.[6]

Ryuji Iwasaki được thể hiện bởi Baba Ryouma (馬場 良馬 Baba Ryōma?)[3][4][7][8] Khi còn trẻ, anh được thể hiện bởi Matsuoka Koudai (松岡 広大 Matsuoka Kōdai?).

Gorisaki Banana[sửa | sửa mã nguồn]

Gorisaki Banana (ゴリサキ・バナナ Gorisaki Banana?) là Buddyloid của Ryuji có hình dạng khỉ đột.

Gorisaki Banana được lồng tiếng bởi Genda Tesshou (玄田 哲章 Genda Tesshō?).

Usami Yoko[sửa | sửa mã nguồn]

Usami Yoko (宇佐見 ヨーコ Usami Yōko?) là một thiếu nữ 16 tuổi với danh hiệu Yellow Buster (イエローバスター Ierō Basutā?). Chou Power cho phép cô dùng chân để nhảy cao. Weakpoint khiến cô bị vô lực khi thiếu calorie, nên cần phải thường xuyên nạp năng lượng từ kẹo ngọt. Khi biến hình thành Yellow Buster Powered Custom (イエローバスター パワードカスタム Ierō Basutā Pawādo Kasutamu?), mang giáp Protector tạo ra từ dữ liệu của Usada, khả năng Yoko nhảy được tăng cường. Tuyệt chiêu của cô là Rapid Kick (ラピッドキック Rapiddo Kikku?).[9]

Yoko Usami được thể hiện bởi Komiya Arisa (小宮 有紗 Komiya Arisa?).[3][4][10] Khi còn nhỏ, cô được thủ vai bởi Hirasawa Kokoro (平澤 宏々路 Hirasawa Kokoro?).

Usada Lettuce[sửa | sửa mã nguồn]

Usada Lettuce (ウサダ・レタス Usada Retasu?), mật danh RHUL-03 (RHUL-03 Āru Eichi Yū Eru Zero Surī?), là Buddyloid của Yoko có hình dạng một con thỏ. Usada được trang bị với chương trình quản lý dữ liệu, hỗ trợ các Go-Busters từ phòng điều khiển. Cậu ta cũng có phần thân rỗng để lưu trữ các vật thể. Câu cửa miệng của Usada là "Roger Rabbit" (ロジャー・ラビット Rojā Rabitto?).

Usada Lettuce được lồng tiếng bởi Suzuki Tatsuhisa (鈴木 達央 Suzuki Tatsuhisa?).

Jin Masato[sửa | sửa mã nguồn]

Beet Buster (phải) và Stag Buster (trái) trong lần đầu tiên xuất hiện.

Jin Masato (陣 マサト Jin Masato?) là một kĩ sư thiên tài và là Beet Buster (ビートバスター Bīto Basutā?). Trong sự kiện 13 năm trước, Masato đang làm việc trong một dãy nhà khác và bị mắc kẹt trong Á Không Gian cùng với Messiah khi Viện Nghiên cứu bị dịch chuyển. Tuy nhiên, quá trình dịch chuyển của anh bị lỗi nên một phần dữ liệu của anh đã bị Messiah hấp thụ. Trong khi bị mắc kẹt, anh đã tạo ra Beet J. Stag để giúp mình đưa cơ thể thực vào giấc ngủ và tạo một avatar của riêng mình. Khi anh ta biết được rằng Messiah đang chế tạo MegaZord dựa trên thiết kế BC-04 của anh, Masato đã đưa J. để hỗ trợ Go-Busters chống lại Messiah. Vì thế, anh đã chế tạo ra Buster Gear đặc biệt cho mình và J., cho phép anh ta biến hình thành Beet Buster màu vàng kim.

Masato Jin được thể hiện bởi Matsumoto Hiroya (松本 寛也 Matsumoto Hiroya?),[11].

Beet J. Stag[sửa | sửa mã nguồn]

Beet J. Stag (ビート・J・スタッグ Bīto Jei Sutaggu?), hay đơn giản là "J.", là Buddyloid của Masato có hình dạng bọ vừng. Kí tự ở giữa là viết tắt của Jueki (樹液?), tức "thụ dịch" hay sáp cây. Được Masato tạo ra trong Á Không Gian, J. được đưa đến thế giới thực bằng cách ẩn nấp trong một Vaglass Megazord.[12]

J. được trang bị Marker System (マーカーシステム Mākā Shisutemu?) cho phép tái tạo avatar của Masato và khởi động cặp Buster Machine của họ. Anh ta cũng có khả năng biến hình thành Stag Buster (スタッグバスター Sutaggu Basutā?) để chiến đấu cùng với Beet Buster. Quá trình biến hình diễn ra khi các mảnh giáp trên người của anh ta tách ra và chuyển thành áo giáp của Beet Buster. Nếu cạn kiệt Enetron, anh ta sẽ trở nên say xỉn. Vì anh ta không có chương trình vacccine, anh ta có thể bị nhiễm Metavirus và bị điều khiển.

Beet J. Stag được lồng tiếng bởi Yuichi Nakamura (中村 悠一 Nakamura Yūichi?).

Bộ đặc nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Kuroki Takeshi[sửa | sửa mã nguồn]

Kuroki Takeshi (黒木 タケシ Kuroki Takeshi?) là sĩ quan chỉ huy 40 tuổi của Bộ đặc nhiệm, chỉ đạo các Go-Busters và hàng trăm nhân viên khác. Ông vốn là trợ lý phòng thí nghiệm của bố Hiromu và là bạn của Jin Masato (người đặt cho ông biệt danh "Kurorin" (黒リン?).

Takeshi Kuroki được thể hiện bởi Sakaki Hideo (榊 英雄 Sakaki Hideo?).[13][14][15]

Morishita Toru[sửa | sửa mã nguồn]

Toru Morishita (森下 トオル Morishita Tōru?) là một điều hành viên có nhiệm vụ kiểm soát hệ thống của Bộ đặc nhiệm.

Toru Morishita được thể hiện bởi Takahashi Naoto (高橋 直人 Takahashi Naoto?).

Nakamura Miho[sửa | sửa mã nguồn]

Nakamura Miho (仲村 ミホ Nakamura Miho?) là một điều hành viên của Bộ đặc nhiệm. Cô có chuyên môn trong việc theo dõi Á Không Gian.

Miho Nakamura được thể hiện bởi Nishihira Fuuka (西平 風香 Nishihira Fūka?).[16]

Đồng minh[sửa | sửa mã nguồn]

Saotome Reika[sửa | sửa mã nguồn]

Saotome Reika (早乙女レイカ?) là thân phận thật của một nữ siêu trộm tự xưng là Pink Buster (ピンクバスター Pinku Basutā?). Do vô tình tạo ra Messiah Metaloid sau một phi vụ của mình, cô đã hợp tác cùng Hiromu đánh bại hắn.[17]

Saotome Reika được thể hiện bởi Shinkawa Yua (新川優愛 Skinkawa Yua?).[18]

Cảnh sát Liên bang Ngân hà[sửa | sửa mã nguồn]

Jumonji Geki (十文字 撃 Jūmonji Geki?)
thành viên của Cảnh sát Liên bang Ngân hà (銀河連邦警察 Ginga Renpō Keisatsu?) và là người kế nhiệm của cảnh sát kì cựu Ichijouji Retsu để mang danh hiệu Gavan, hay "Uchu Keiji Gyaban Type G" (宇宙刑事ギャバンタイプG Uchū Keiji Gyaban Taipu Jī?), sử dụng khẩu lệnh "Jouchaku" (蒸着 Jōchaku?, Chương Khan) khi cần Tàu cao tốc thứ nguyên Dolgiran (超次元高速機ドルギラン Chō Jigen Kōsokuki Dorugiran?) gửi các hạt Granium để tạo ra bộ giáp Gavan Type-G trong vòng 1/20 giây. Là một Gavan mới, Geki được triển khai đến Trái Đất để truy đuổi Rhino Doubler, một Doubler Monster của Tổ chức tội phạm Makuu. Sau khi gặp Go-Busters, Geki đã đề nghị sự giúp đỡ của họ chống lại Rhino Doubler.
Jumonji Geki được thể hiện bởi Ishigaki Yuma (石垣 佑磨 Ishigaki Yūma?)
Shelly (シェリー Sherī?)
trợ lý của Geki từ hành tinh Bird, cô có một thiết bị ảo ảnh mang tên "Laser Vision," cho phép cô biến thành một con vẹt. Trong khi bị thất lạc với Geki, Shelly đã gặp Go-Busters và kết bạn với Yoko.
Shelly được thể hiện bởi Morita Suzuka (森田 涼花 Morita Suzuka?).

Kamen Rider và Super Sentai[sửa | sửa mã nguồn]

Go-Busters hợp tác với các Super Sentai và Kamen Rider để chống lại liên minh Dai-Shocker/Dai-Zangyack trong sự kiện Kamen Rider × Super Sentai: Super Hero Taisen.

Nhóm Gokaiger[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Gokaiger (nhân vật)

Gokaiger (ゴーカイジャー Gōkaijā?) là một nhóm các hải tặc không gian đã thu thập sức mạnh của 34 Super Sentai đời trước bị phân tán trong vũ trụ. Ngoài sự kiện trong Super Hero Taisen, Go-Buster cũng xuất hiện và bí mật bảo vệ tàu GokaiGalleon khỏi sự xâm nhập của Basco ta Jolokia trong khi các Gokaiger tiến vào không gian Makuu để giải cứu Ichijouji Retsu.

Một năm sau khi Gokaiger rời khỏi Trái Đất, họ đã trở lại, nhưng với một con tàu GokaiGalleon của Zangyack màu đen và tấn công Go-Busters để tìm kiếm các Phantom Key. Sau một cuộc phiêu lưu, họ hợp tác với nhau chống lại liên minh Zangyack/Vaglass.

  • Captain Marvelous, tức Gokai Red (ゴーカイレッド Gōkai Red?).
  • Joe Gibken, tức Gokai Blue (ゴーカイブルー Gōkai Burū?).
  • Luka Millfy, tức Gokai Yellow (ゴーカイイエロー Gōkai Ierō?).
  • Don Dogoier, tức Gokai Green (ゴーカイグリーン Gōkai Gurīn?).
  • Ahim de Famille, tức Gokai Pink (ゴーカイピンク Gōkai Pinku?).
  • Ikari Gai, tức Gokai Silver (ゴーカイシルバー Gōkai Shirubā?).
  • Navi.

Kiryu Daigo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kyoryuger (nhân vật)

Trong khi Gokai Red và Red Buster đang chiến đấu với Waredonaiyer thì Kiryu Daigo (桐生 ダイゴ Kiryū Daigo?), tức Kyoryu Red (キョウリュウレッド Kyōryū Reddo?), xuất hiện và tự nhận mình là nhóm Kyoryuger. Mặc dù ngạc nhiên, cả hai đã để cho anh ta một mình xử lý Waredonaiyer, mà không biết rằng đội của anh ta đã sớm xuất hiện ngay sau đó.

Dōbutsu Sentai Go-Busters[sửa | sửa mã nguồn]

Dōbutsu Sentai Go-Busters

Trong Kaettekita Tokumei Sentai Go-Busters vs. Dōbutsu Sentai Go-Busters, Dōbutsu Sentai Go-Busters (動物戦隊ゴーバスターズ Dōbutsu Sentai Gōbasutāzu, Chiến đội Động thú Go-Busters?) là một nhóm Sentai tồn tại trong một thế giới song song do Thượng đế tạo ra theo lời ước của Nick. Sau đó, họ được đem đến thế giới thực để hợp tác cùng Tokumei Sentai Go-Busters đánh bại Azazel. Khi thảm hoạ bị đẩy lùi, Dōbutsu Sentai Go-Busters cùng với thế giới của họ chấm dứt tồn tại.

Red Cheetah Sakurada Hiromu
Blue Gorilla Iwasaki Ryuji
Yellow Rabbit Usami Yoko
Gold Beetle Jin Masato
Silver Stag Beet J. Stag
Black Puma Kuroki Takeshi
Pink Cat Sakurada Rika
Green Hippopotamus Domyoji Atsushi

Trang thiết bị[sửa | sửa mã nguồn]

Buster Gear[sửa | sửa mã nguồn]

Buster Gear (バスターギア Basutā Gia?) là một bộ thiết bị được Go-Busters sử dụng chiến đấu với Vaglass.

  • Morphin Brace (モーフィンブレス Mōfin Buresu?): Morphin Brace là thiết bị cho phép bộ ba Go-Busters biến hình với kính Morphin Glass (モーフィングラス Mōfin Gurasu?), khiến họ mạnh lên gấp 15 lần. Khẩu hiệu biến hình của họ là "Let's Morphin" (レッツモーフィン Rettsu Mōfin?) với Buster Suit (バスタースーツ Basutā Sūtsu?) được vật chất hoá trong vòng 1/2 giây.[3]
  • Transpod (トランスポッド Toransupoddo?): Transpod là thiết bị gắn vai của Go-Buster cho phép họ dịch chuyển vũ khí tức thời từ căn cứ. Trong khi Transpod của bộ ba có màu đen và bạc, thiết bị của bộ đôi Go-Busters có màu vàng kim và bạc. Transpod cũng có chức năng thay đổi giọng nói, cho phép người sử dụng bắt chước giọng nói của người khác.[3]
  • Ichigan Buster (イチガンバスター Ichigan Basutā?, [Note 1]): Một trong những vũ khí chính của Go-Busters, Ichigan Buster là một chiếc máy ảnh phản xạ ống kính đơn có thể chuyển thành súng bắn tia.[3]
  • Sougan Blade (ソウガンブレード Sōgan Burēdo?, [Note 2]): Một vũ khí chính khác của Go-Busters, Sougan Blade là một chiếc ống nhóm có thể biến thành dao gặm.[3]
  • Ichigan Buster Special Buster Mode (イチガンバスター スペシャルバスターモード Ichigan Basutā Supesharu Basutā Mōdo?): Ichigan Buster Special Buster Mode là sự kết hợp của Ichigan Buster và Sougan Blade thành một súng bắn tia mạnh hơn.[3]
  • Morphin Blaster (モーフィンブラスター Mōfin Burasutā?): Morphin Blaster là thiết bị dạng điện thoại cho phép bộ đôi Go-Busters biến hình với kính Morphin Glass. Khẩu lệnh biến hình của họ là "Let's Morphin" diễn ra trong 1/2 giây. Sau khi biến hình, Morphin Blaster được sử dụng làm súng cầm tay.
  • DriBlade (ドライブレード Doraiburēdo?): DriBlades là vũ khí dạng đao của bộ đôi Go-Busters. Nó cũng có thể ráp thành tay lái cho Buster Vehicle.
  • GB Custom Visor (GBカスタムバイザー Jī Bī Kasutamu Baizā?): Custom Visors là thiết bị cho phép bộ ba Go-Busters biến thành dạng Powered Custom (パワードカスタム Pawādo Kasutamu?) bằng cách hấp thụ dữ liệu của các Buddyloid của họ. Khẩu lệnh biến hình của họ là "Powered Morphin" (パワードモーフィン Pawādo Mōfin?).
  • Lio Blaster (ライオブラスター Raio Burasutā?): Lio Blaster là một khẩu pháo mạnh mẽ tạo ra từ Lio Attache (ライオアタッシュ Raio Atasshu?). Nó cũng là trình điều khiển cho Tategami Lioh.
  • Lio Blaster Final Buster Mode (ライオブラスター ファイナルバスターモード Raio Burasutā Fainaru Basutā Mōdo?): Lio Blaster Final Buster Mode được kết hợp từ Lio Blaster và Sougan Blade thành một khẩu pháo còn mạnh hơn.

Buster Machine[sửa | sửa mã nguồn]

Buster Machine (バスターマシン Basutā Mashin?), được tạo ra từ loại kim loại hiếm tên là Deltarium 39, được sử dụng bởi Go-Busters để chiến đấu với Vaglass Megazord. Chúng có thể thay đổi từ chế độ Buster Vehicle (バスタービークル Basutā Bīkuru?) sang chế độ Buster Animal (バスターアニマル Basutā Animaru?).

  • CB-01 Cheetah (CB-01チーター Shī Bī Zero Wan Chītā?).[19]
  • GT-02 Gorilla (GT-02ゴリラ Jī Tī Zero Tsū Gorira?).[20]
  • RH-03 Rabbit (RH-03ラビット Āru Eichi Zero Surī Rabitto?).[21]
  • BC-04 Beetle (BC-04ビートル Bī Shī Zero Fō Bītoru?).[22]
  • SJ-05 Stag Beetle (SJ-05スタッグビートル Esu Jei Zero Faibu Sutaggu Bītoru?).[23]
  • FS-0O Frog (FS-0Oフロッグ Efu Esu Zero Ō Furoggu?).

Megazord[sửa | sửa mã nguồn]

Megazord (メガゾード Megazōdo?) là các robot hình người được cả Go-Busters và Vaglass sử dụng. Các Megazord do Go-Busters sử dụng được biến hình hoặc lắp ráp từ các Buster Machine.

  • Go-Buster Ace (ゴーバスターエース Gōbasutā Ēsu?): CB-01 Cheetah.
    • Go-Buster Ace Stag Custom (ゴーバスターエース・スタッグカスタム Gōbasutā Ēsu Sutaggu Kasutamu?): CB-01 Cheetah + SJ-05 Stag Beetle.
    • Đặc nhiệm Hợp thể Go-Buster Oh (特命合体ゴーバスターオー Tokumei Gattai Gōbasutā-Ō?): CB-01 Cheetah + GT-02 Gorilla + RH-03 Rabbit.
      • Rocket Drill Go-Buster Oh (ロケットドリルゴーバスターオー Roketto Doriru Gōbasutā-Ō?): CB-01 Cheetah + GT-02 Gorilla + RH-03 Rabbit + Rocket Switch Super-1 + Drill Switch Super-3.
      • Great Go-Buster (グレートゴーバスター Gurēto Gōbasutā?): CB-01 Cheetah + GT-02 Gorilla + RH-03 Rabbit + BC-04 Beetle + SJ-05 Stag Beetle.
    • Đặc nhiệm Hợp thể Go-Buster Kero-Oh (特命合体ゴーバスターケロオー Tokumei Gattai Gōbasutā Kero-Ō?): CB-01 Cheetah + GT-02 Gorilla + FS-0O Frog.
  • Go-Buster Beet (ゴーバスタービート Gōbasutā Bīto?): BC-04 Beetle.
    • Buster Hercules (バスターヘラクレス Basutā Herakuresu?): BC-04 Beetle + SJ-05 Stag Beetle.
  • LT-06 Tategami Lioh (LT-06タテガミライオー Eru Tī Zero Shikkusu Tategami Raiō?).
    • Go-Buster Lioh (ゴーバスターライオー Gōbasutā Raiō?): LT-06 Tategami Lioh + GT-02 Gorilla + RH-03 Rabbit.
      • Go-Buster King (ゴーバスターキング Gōbasutā Kingu?): LT-06 Tategami Lioh + GT-02 Gorilla + RH-03 Rabbit + BC-04 Beetle + SJ-05 Stag Beetle.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Ichigan" bắt nguồn từ chữ "máy ảnh phản xạ ống kính đơn" (一眼レフカメラ ichigan refu kamera?).
  2. ^ "Sougan" bắt nguồn từ chữ "ống nhòm" (双眼鏡 sōgankyō?).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “TV Asahi's page on Red Buster Powered Custom”. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2012. 
  2. ^ “スーパー戦隊シリーズ新番組『特命戦隊ゴーバスターズ』 主演・レッドバスター/桜田ヒロム役にて出演決定!!”. 1 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2012. 
  3. ^ a ă â b c d đ e Hyper Hobby, February 2012
  4. ^ a ă â Tokumei Sentai Go-Busters Tokyo Dome City Prism Hall event promotional pamphlet
  5. ^ “TV Asahi's page on Red Buster”. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2012. 
  6. ^ “TV Asahi's page on Blue Buster Powered Custom”. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2012. 
  7. ^ “2012年01月01日のブログ|馬場良馬 オフィシャルブログ 「良馬がゆく」 Powered by Ameba”. 1 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2012. 
  8. ^ “TV Asahi's page on Blue Buster”. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2012. 
  9. ^ “TV Asahi's page on Yellow Buster Powered Custom”. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2012. 
  10. ^ “TV Asahi's page on Yellow Buster”. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2012. 
  11. ^ “TV Asahi's page on Beet Buster”. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2012. 
  12. ^ “TV Asahi's page on Stag Buster”. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2012. 
  13. ^ “陳内将 BLOG 特命戦隊ゴーバスターズ!”. 2 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012. 
  14. ^ Hyper Hobby, March 2012
  15. ^ Toei Hero Max, vol. 40
  16. ^ “榊英雄オフィシャルブログ「CUT! CUT!! CUT!!!」by Ameba”. 24 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2012. 
  17. ^ “TV Asahi's official summary for 「怪盗ピンクバスター!」”. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2012. 
  18. ^ Mission41「怪盗ピンクバスター!」
  19. ^ “TV Asahi's page on the CB-01 Cheetah”. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2012. 
  20. ^ “TV Asahi's page on the GT-02 Gorilla”. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2012. 
  21. ^ “TV Asahi's page on the RH-03 Rabbit”. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2012. 
  22. ^ “TV Asahi's page on the BC-04 Beetle”. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2012. 
  23. ^ “TV Asahi's page on the SJ-05 Stag Beetle”. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2012. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]