Danh sách nhân vật trong YuYu Hakusho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
書.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Nhật Bản.

Bộ manga YuYu Hakusho của Yoshihiro Togashi có một hệ thống các nhân vật hư cấu rất rộng lớn. Đầu tiên phải kể đến là Yusuke Urameshi, một dạng học sinh tồi tệ tiêu biểu nhưng thực ra lại không tồi tệ như vậy. Sau khi chết đi và được tái sinh, cậu trở thành một thám tử của các hiện tượng bất thường trong thế giới con người. Các nhân vật nổi bật khác như gia đình của Yusuke, bạn cùng trường, bạn bè, những đồng minh trong công việc thám tử của cậu cũng như những người cai quản tối cao của spirit world người ban cho cậu cuộc sống. Yusuke bắt đầu công việc của mình ở human world, nhưng lại kết thúc cuộc phiêu lưu ở Underworld và cuối cùng là demon plane. Ở mỗi nơi cậu đến đều gặp thêm những kẻ thù cũng như một số đồng minh mới.

Các tên viết theo thứ tự Á Đông, họ trước tên sau. Theo thứ tự, tên phiên âm theo Tiếng Anh, tên viết bằng tiếng Nhật, tên dịch theo Hán Việt từ chữ Kanji, tên phiên âm từ chữ Romaji.

Nhân vật chính diện[sửa | sửa mã nguồn]

Có 4 nhân vật chính trong truyện là: Urameshi Yūsuke, Kuwabara Kazuma, Hiei, Kurama. Cùng nhau họ lập thành nhóm Reikai Tantei (Thám tử linh giới). Trong phần 2, Genkai gia nhập nhóm như là thành viên thứ 5 dưới danh nghĩa là nhóm Urameshi trong giải đấu hắc ám. Botan được xem như người hướng dẫn cho nhóm của Urameshi trong giải đấu hắc ám.

Yusuke Urameshi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuổi: 14
  • Lồng tiếng bởi: Sasaki Nozomu (tiếng Nhật), Justin Cook (tiếng Anh)
  • Yusuke Urameshi (Nhật: 浦飯 幽助 (Phổ Phạn U Trợ) Urameshi Yūsuke?) - được biết tới như là sự đúc kết của tất cả mọi điều xấu của một cậu học sinh: từ nghỉ học, ngủ gật trong lớp cho đến đánh nhau trong và ngoài trường (cậu còn hút thuốc và uống rượu trong manga). Cậu chết trong khi cứu một đứa bé khỏi bị xe đụng, đây là điều mà người giám hộ của cậu (một dạng như thiên thần) không hề lường trước. Koenma cho phép Botan trở thành người hướng dẫn của cậu để cậu có thể vượt qua thử thách trước khi được phép tái sinh, cũng là để chứng minh rằng cậu là một người tốt thực sự. Sau khi vượt qua thử thách cậu đồng thời trở thành thám tử linh giới để bảo vệ con người khỏi sự đe doạ của quỷ dữ.Cậu cũng vô cùng quan tâm bảo vệ bạn gái từ thời thơ ấu của mình là Keiko và tránh để cô gặp rắc rối với Linh giới. Đến cuối truyện, cậu đã cầu hôn Keiko và hứa sẽ trở lại sau khi đến Ma giới để tìm hiểu về thân thế của mình.

Đòn tấn công chủ yếu của cậu là Reigun (Nhật: 霊丸 (Linh Hoàn) Reigan?) (Tiếng Anh còn gọi là Spirit gun). Tập trung năng lượng vào đầu ngón tay trỏ và bắn ra như một viên đạn. Cậu đã tăng cường sức mạnh của thứ vũ khí này lên rất nhiều ở cuối câu chuyện.

Kazuma Kuwabara[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Chiba Shigeru (tiếng Nhật), Christopher Sabat (tiếng Anh)
  • Kazuma Kuwabara (Nhật: 桑原 和真 (Tang Nguyên Hòa Chân)?) - là học sinh lì lợm thứ 2 của trường Sarayashiki và luôn cố gắng để chiếm “ngôi vua“ của Yusuke. Cậu có tình cảm đặc biệt đối với yêu băng Yukina (em gái của Hiei). Cậu luôn dành sự trung thành tuyệt đối với những người bạn của mình cũng như với các thành viên của nhóm thám tử linh giới. Luôn có một mối liên hệ đặc biệt giữa sức mạnh với cảm xúc của cậu (có thể thấy rõ lúc Yusuke bị giết bởi Sensui, cậu đã giải phóng được sức mạnh thực sự của cậu để sử dụng thanh kiếm bằng linh khí mạnh nhất). Mặc dù là nhân vật chính nhưng cậu lại không xuất hiện trong câu chuyện cuối cùng.

Kuwabara có một linh khí mạnh đến nỗi cậu có thể cảm nhận Yusuke sau khi cậu chết. Khả năng của cậu là tạo ra một thanh kiếm bằng linh khí của chính cậu Spirit Sword (Nhật: 霊剣 (Linh kiếm) Rei Ken?). Lúc đầu cậu cần một mảnh kiếm gỗ bị gãy của đối thủ để có thể sử dụng thanh kiếm, nhưng về sau cậu đã có thể tự tạo ra nó để dùng trong giải đấu hắc ám, cậu còn có thể tạo ra cùng lúc hai thanh “Spirit sword” để chiến đấu. Về sau, sức mạnh của cậu đã mạnh đến mức tạo ra được thanh kiếm có thể phá dễ dàng bức tường ngăn cách Ma giới với thế giới loài người. Kuwabara là con người mạnh nhất trong thế giới của truyện. Thanh kiếm linh khí cuối cùng của cậu có tên "Thứ Nguyên Đao", có thể cắt bất cứ thứ gì theo ý chủ nhân nó, kể cả không khí. nước, không gian thứ nguyên. Thanh kiếm này có thể giúp Kuwabara chém đến bất kì vị trí nào cho dù đối tượng cách xa bao nhiêu, hay thậm chí là ngăn cách trong không gian.

Kurama[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Ogata Megumi (Shūichi), Nakahara Shigeru (Youko) (tiếng Nhật), John Burgmeier (tiếng Anh)
  • Kurama (Nhật: 蔵馬 (Tàng Mã)?) - vốn là một con quỷ chuyên đi trộm cắp, sau khi bị một thợ săn bắn trong thương đã ẩn mình vào trong một đứa bé sắp chào đời. Trưởng thành sau 15 năm dưới tên Shuichi Minamino (Nhật: 南野 秀一 ('Nam Dã Tú Nhất) Minamino Shūichi?), Kurama đã học được phong cách của con người: lịch thiệp, nói năng nhẹ nhàng và là một người con hiếu thảo. Cậu rất được chú ý như một người đặc biệt ở trong trường.

Nhẫn nại và thông minh, Kurama sẽ làm mọi điều để có thể thực hiện được những thứ mình muốn cho dù nó có nguy hiểm đến đâu đi chăng nữa. Cậu thích dùng sức mạnh của tri thức, đánh vào điểm yếu của đối phương và sắp đặt chiến thuật chiến đấu cho riêng mình. Cậu có khứu giác cực nhạy của một con cáo và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm qua nhiều năm, cậu còn có thể đọc được những gì người khác nói bằng cách nhìn miệng của họ.

Sức mạnh thực sự của cậu là điều khiển thực vật: cậu dùng thực vật làm vũ khí cực kì lợi hại và cũng am hiểu rất rõ về từng loại thực vật (điểm mạnh,điểm yếu cũng như thông thạo cách sử dụng). Vũ khí cậu thường dùng là roi hoa hồng (Nhật: 薔薇棘鞭刃 Tiếng Anh là Rose Whip?). Ngoài ra cậu cũng có thể biến thành hình dạng yêu quái thực sự của mình.

Kurama Hồ Ly (Nhật: 妖狐蔵馬 Yōko Kurama?) - là con cáo yêu tinh bị nhốt trong cơ thể của Shūichi Minamino. Đó là một con yêu cáo màu bạc với bốn chiếc đuôi. Nó còn có hình dạng một con người với mái tóc bạch kim dài, một chiếc đuôi và hai cái tai cáo trên đầu. Trong hình dạng đó, Kurama trở nên mạnh hơn và sử dụng vũ khí của mình tốt hơn, nhưng đồng thời cũng rất tự cao (điều này cũng khiến Kurama có những nhận định sai lầm về đối thủ)

Hiei[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Hiyama Nobuyuki (tiếng Nhật), Chuck Huber (tiếng Anh)
  • Ngoài ra còn được lồng tiếng bởi Kirk Thornton (Yu Yu Hakusho: The Movie) và James Stanley (Yu Yu Hakusho: Poltergeist Report)
  • Hiei (Nhật: 飛影 (Phi Ảnh)?) hay còn được biết đến với tên Jaganshi Hiei (Nhật: 邪眼師 (Tà nhãn sư Hiei) hay Hiei Mắt quỷ?) - là con của một Korime (Nhật: 氷女 (băng nữ) Kōrime?) và yêu quái lửa (Nhật: 火妖怪 (hoả yêu)?). Mẹ của cậu, Hina,bị buộc phải vứt bỏ cậu do luật lệ nơi mẹ cậu sống không cho phép có con trai. Hiei được một nhóm cướp nuôi nấng và được dạy giết chóc từ rất sớm. Toàn bộ kí ức về quá khứ mà câu có là sợi dây chuyền mang một viên ngọc Hiruiseki (Nhật: 氷涙石 nước mắt của băng nữ?) kỉ vật mà mẹ cậu đã để lại cho cậu. Sợi dây chuyền đã bị cậu đánh mất trong một trần chiến. Để tìm lại nó, cậu đã giành được Jagan (Nhật: 邪眼 (Tà nhãn) mắt quỷ?). Nhờ vậy mà cậu tìm được nơi mà cậu sinh ra và người mẹ đau khổ của mình. Hiei cũng biết được rằng mình cũng có một người em gái sinh đôi, Yukina, cô bé đã rời khỏi làng từ lâu. Sau đó, Hiei quyết định đi tìm cô bé.

Như một hậu quả tất yêu của việc sử dụng mắt quỷ, năng lượng của cậu thường bị kiệt quệ. Và sau mỗi lần bình phục, cậu khám phá ra rằng nó ban cho cậu rất nhiều sức mạnh bao gồm thôi miên, ngoại cảm, nhìn được tương lai và điều khiển mọi thứ bằng mắt. Jagan còn có thể biến cậu thành hình dạng một yêu quái với làn da màu xanh lá, toàn thân được bao phủ bởi rất nhiều con mắt. Nhưng Hiei rất ít khi sử dụng hình dạng đó bởi cậu bảo rằng nó rất khó điều khiển. Khi chiến đấu, Hiei thường dụng sức mạnh của tốc độ và kĩ năng dùng kiếm của mình. Cậu còn có tuyệt chiêu rất mạnh là Tà Vương Diễm Sát Hắc Long Ba (Nhật: 邪王炎殺黒龍波 Jaō Ensatsu Kokuryūha?, Tyrant King's Blaze-Murdering Black-Dragon-Wave) (Tiếng Anh là Dragon of the Darkness Flame). Nhưng ban đầu, cậu không biết cách điều khiển tuyệt chiêu này, sau này cậu đã biết hợp nhất với con rồng để điều khiển nó: ngoài ra nó còn tăng sức tấn công và phòng thủ của cậu. Tuy nhiên, tuyệt chiêu này cũng làm cậu hao tổn rất nhiều sức mạnh khiến cậu hôn mê trước khi năng lượng của cậu bị kiệt quệ.

Genkai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi Kyōda Hisako (Lúc già), Hayashibara Megumi (Lúc trẻ) (Tiếng Nhật), Linda Young (Tiếng Anh)
  • Genkai (Nhật: 幻海 (Ảo Hải)?) - từng là một anh hùng nay đã già và giờ ở trong một ngôi đền lớn. Hồi trẻ, bà là người yêu của Toguro em (người đã trở thành quỷ sau giải đấu hắc ám). Bà là người đã dạy dỗ Yusuke cũng như trao cho cậu sức mạnh của mình để cậu chiến thắng trong giải đấu hắc ám. Bà cũng trực tiếp gia nhập nhóm của Yusuke để giúp cậu. Sau khi trao toàn bộ sức mạnh bà có cho Yusuke, bà đã không đủ sức để chiến đấu với Toguro và bị hắn giết. Bà cũng đã giúp Yusuke chuẩn bị cho cuộc chiến với Sesui và giúp cậu trở về từ ma giới.

Bà là người sáng tạo ra "Linh sóng" Spirit Wave (Nhật: 修の拳 Shū no Ken?, lit. Fist of Mastery), một tuyệt chiêu vô cùng mạnh để huỷ diệt hoàn toàn sức năng lượng của quỷ. Bằng việc sử dụng sức mạnh của mình, bà có thể trẻ lại thành một thiếu nữ 20 (lúc mà bà đang ở đỉnh cao của sức mạnh).

Nhân vật phản diện[sửa | sửa mã nguồn]

Rando[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Inoue Yō (tiếng Nhật), Eric Vale (tiếng Anh)
  • Rando (Nhật: 乱童 Randō?)

Tứ đại ma thú[sửa | sửa mã nguồn]

  • Genbu the Stone Turtle (Nhật: 玄武?)
  • Byakko the White Tiger (Nhật: 白虎?)
  • Seiryu the Blue Dragon (Nhật: 青龍?)
  • Suzaku the Lighting Phoenix (Nhật: 朱雀?)

Nhóm Jolly Devil Six[sửa | sửa mã nguồn]

Rinku[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Kondo Yoshiko (tiếng Nhật), Kimberly Grant (tiếng Anh)
  • Rinku (Nhật: 鈴駒?)

Chu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Wakamoto Norio (tiếng Nhật), Kent Williams (tiếng Anh)
  • Chu (Nhật: Chū?)

Nhóm của bác sĩ Ichigaki[sửa | sửa mã nguồn]

Bác sĩ Ichigaki[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: James Fields
  • Dr. Ichigaki (Nhật: Dr.イチガキ?)

Nhóm Shadow Channelers[sửa | sửa mã nguồn]

Team Shadow Channelers (Nhật: 魔性使いチーム Mashōtsukai Chīmu?)

Toya[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Matsumoto Yasunori (tiếng Nhật), Daniel Katzuk (tiếng Anh)
  • Toya (Nhật: 凍矢 Tōya?, manga tiếng Anh: Toya, anime tiếng Anh: Touya)

Jin[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Yamaguchi Kappei (tiếng Nhật), Jerry Jewel (tiếng Anh)
  • Jin (Nhật: ?)

Nhóm Fractured Fairy Tales[sửa | sửa mã nguồn]

Shishi Wakamaru[sửa | sửa mã nguồn]

  • Shishiwakamaru (Nhật: 死々若丸? Manga tiếng Anh: Shishiwakamaru, anime: Shishi Wakamaru)

Suzuka[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm Toguro[sửa | sửa mã nguồn]

Toguro em[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Genda Tesshō (tiếng Nhật), Dameon Clarke (tiếng Anh)
  • Younger Toguro (Nhật: 戸愚呂弟 Toguro-otouto?)

Toguro anh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Suzuki Katsumi (tiếng Nhật), Bill Townsley (tiếng Anh)
  • Elder Toguro (Nhật: 戸愚呂兄 Toguro-ani?)

Karasu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Horikawa Ryō (tiếng Nhật), Kyle Hebert (tiếng Anh)
  • Karasu (Nhật: ?)

Bui[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Kaneo Tetsuo (tiếng Nhật), Vic Mignogna (tiếng Anh)
  • Bui (Nhật: 武威?)

Sakyo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Furuta Nobuyuki (tiếng Nhật), Eric Vale (tiếng Anh)
  • Sakyo (Nhật: 左京 Sakyō?)

Nhóm Sensui Seven[sửa | sửa mã nguồn]

Sensui Shinobu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Naya Rokurō (tiếng Nhật), Robert McCollum (tiếng Anh)
  • Shinobu Sensui (Nhật: 仙水 忍 Sensui Shinobu?)

Itsuki[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Tsujitani Kooji (Tiếng Nhật)
  • Itsuki (Nhật: ?)

Hagiri Kaname[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Sekiguchi Eiji
  • Kaname Hagiri (Nhật: 刃霧要 Hagiri Kaname?)

Kamiya Minoru[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Arakawa Taro (tiếng Nhật), Sonny Strait (tiếng Anh)
  • Minoru Kamiya (Nhật: 神谷 実 Kamiya Minoru?)

Mitarai Kiyoshi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Matsumoto Rika (tiếng Nhật), Justin Pate (tiếng Anh)
  • Kiyoshi Mitarai (Nhật: 御手洗 清志 Mitarai Kiyoshi?)

Amanuma Tsukihito[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Monica Rial
  • Tsukihito Amanuma (Nhật: 天沼 月人 Amanuma Tsukihito?)

Makihara Sadao[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Morikawa Toshiyuki
  • Sadao Makihara (Nhật: 巻原 定男 Makihara Sadao?)

Nhóm ở Ma giới[sửa | sửa mã nguồn]

Yomi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Ebara Masashi (tiếng Nhật), Rick Robertson (tiếng Anh)
  • Yomi (Nhật: 黄泉?)

Mukuro[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Takayama Minami (tiếng Nhật), Wendy Powell (tiếng Anh)
  • Mukuro (Nhật: ?)

Raizen[sửa | sửa mã nguồn]

Shigure[sửa | sửa mã nguồn]

  • Shigure (Nhật: 時雨?)

Kuronue[sửa | sửa mã nguồn]

Bạn bè[sửa | sửa mã nguồn]

Keiko Yukimura[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuổi:14
  • Lồng tiếng bởi: Amano Yuri (tiếng Nhật), Laura Bailey (tiếng Anh)
  • Keiko Yukimura (Nhật: 雪村 螢子 (Tuyết Thôn Huỳnh Tử) Yukimura Keiko?) - là bạn từ thời thơ ấu của Yusuke. Càng ngày họ càng như trở thành hai thái cực; Keiko thì trung thực, một học sinh gương mẫu; còn Yusuke thì càng ngày càng hư hỏng nhưng bướng bỉnh như một đứa trẻ. Tuy nhiên, cả hai là thân thiết với nhau đến nỗi cha mẹ của Keiko đã nhận Yusuke vào làm cho quán ăn của họ. Sau khi Yusuke chết, cậu được cho một cơ hội để tái sinh nếu ai đó hôn thân xác cậu, và người đó là Keiko. Yusuke đã cố gắng rất nhiều để Keiko không gặp rắc rối với sự đe doạ của quỷ trong khi cậu thực hiện nhiệm vụ của một thám tử linh giới. Sau khi nghe nhiều lời nói dối không thể tin được từ Botan, cô phát hiện sự thật về những hiểm nguy mà Yusuke phải đối mặt trong giải đấu hắc ám, và cô đã quyết định giúp đỡ Yusuke trong hành trình đầy nguy hiểm trước mắt. Trong phiên bản tiếng Anh, tên cô được đọc là Kayko.

Keiko sinh ngày 31 tháng 1, cô 14 tuổi trong đoạn đầu câu chuyện. Cô có nhóm máu A, nấu ăn và dọn dẹp là thói quen của cô.

Koenma[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Tanaka Mayumi (tiếng Nhật), Sean Teague (tiếng Anh)
  • Koenma (Nhật: コエンマ (Tiểu Diêm Vương)?) - là con của vua Enma (người đứng đầu của linh giới-giống như Ngọc Hoàng), cũng là người đảm nhiệm công việc giống như cha của mình. Koenma thường xuất hiện trong hình dạng một đứa trẻ mới biết đi với một cái núm vú trên miệng. Trong truyện cậu tự bảo rằng mình đã 700 tuổi.Sức mạnh của cậu nằm trong cái núm vú của cậu,nó ẩn chứa sức mạnh để tạo kết giới,hàn gắn vết thương và đem linh hồn nhâp lại vào cơ thể. Koenma có những kiến thức uyên bác về vú trụ và lịch sử và chúng rất có ích mỗi khi cậu cần.Cậu cũng là một dạng nhân vật nhút nhát và phổ thông trong các tiểu thuyết. Cậu có thể biến thành một chàng trai trẻ, tuy nhiên cậu lại thích che giấu mình trong hình dạng một cậu bé hơn.

Botan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Miyuki Sanae (tiếng Nhật), Cynthia Cranz (tiếng Anh)
  • Botan (Nhật: ぼたん (Mẫu đơn)?) - là một nhân vật luôn rất vui vẻ và luôn tràn đầy sức sống, nhiệm vụ của cô là làm người dẫn đường xuống âm phủ cho những linh hồn khác. Cô có một mái tóc màu xanh da trời dài và luôn cột kiểu đuôi ngựa, mặc một bộ Kimono màu hồng tươi. Phương tiện đi lại của cô một cái mái chèo, cô thường dùng ngồi trên đó và bay qua lại giữa hai thế giới. Những điều này bắt nguồn từ những thần thoại của Nhật BảnTrung Quốc. Màu xanh da trời (màu da và cũng là màu tóc) là mối liên kết tới vùng đất của cái chết và cũng liên hệ với vùng đất của sự sống; và một điều lạ là người chèo thuyền lạ là một cô gái (không phải là một người đàn ông chèo thuyền lực lưỡng) chèo thuyền để đưa các linh hồn lạc lối qua suối vàng. Botan làm việc rất chăm chỉ, rất quan tâm đến người khác và luôn cố giấu nỗi buồn của mình trước mặt mọi người. Botan không tham gia chiến đấu như những người xung quanh. Nếu phải chiến đấu, cô thường dùng những vũ khí như mái chèo của mình hay gậy bóng chày (dù những thứ đó không hữu dụng trong việc chiến đấu với quỷ). Cô có thể sử dụng bất kì khả năng nào của một thám tử linh giới như Yusuke như là tập trung nhìn xuyên tường bằng “Linh nhãn” để tìm Hiei. Botan còn có thể dùng sức mạnh của mình để chữa trị cho người khác và tạo ra kết giới để bảo vệ mọi người.

Độ tuổi, nhóm máu cũng như ngày sinh của cô đều không xác định. Thói quen của cô là bay lượn trên bầu trời bằng mái chèo của mình.

Kuwabara Shizuru[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuổi: 17 - 20 trong anime
  • Lồng tiếng bởi: Orikasa Ai (tiếng Nhật), Kasey Buckley (tiếng Anh)

Yukina[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Shiratori Yuri (tiếng Nhật), Susan Huber (tiếng Anh)
  • Yukina (Nhật: 雪菜 (Tuyết Thái)?) - Một Korime (Nhật: 氷女 (băng nữ) Kōrime?), nước mắt của cô có thể đông lại thành những viên đá quý hiếm Hiruiseki (Nhật: 氷涙石 nước mắt của băng nữ?) vô giá (một đặc tính của giống loài Kōrime). Yusuke, Botan và Kuwabara đã cứu cô khỏi tay Tarukane Gonzo, một thương gia chợ đen đang tra tấn cô để lấy ngọc. Cô xuất hiện lại sau đó trong bộ truyện, tìm kiếm người anh của mình. Cô không biết sự thật rằng Hiei chính là anh ruột của cô, và rằng Kuwaraba đang thích cô. Là một Kōrime, cô có khả năng tạo ra không khí lạnh, cũng như sử dụng sức mạnh chữa trị.

Kido Asato[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuổi: 15
  • Lồng tiếng bởi: Koyasu Takehito
  • Asato Kido (Nhật: 木戸 亜沙斗 Kido Asato?)

Kaito Yu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuổi: 17
  • Lồng tiếng bởi: Futamata Issei
  • Yu Kaito (Nhật: 海藤 優 Kaitō Yū?)

Yanagisawa Mitsunari[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuổi: 16
  • Lồng tiếng bởi: Madono Mitsuaki (tiếng Nhật), Travis Willingham (tiếng Anh)
  • Mitsunari Yanagisawa (Nhật: 柳沢 光成 Yanagisawa Mitsunari?)

Pu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lồng tiếng bởi: Shiratori Yuri (tiếng Nhật), Justin Cook (tiếng Anh)
  • Pu (Nhật: ぷう ?, English manga: Pu, English anime: Puu) hay Pusuke (Nhật: ぷう助 Pūsuke?) là linh thú của Yusuke. Để được hồi sinh, Koenma đưa cho Yusuke một quả trứng linh thú vàng.

Urameshi Atsuko[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuổi: 29
  • Lồng tiếng bởi: Sōmi Yōko (tiếng Nhật), Meredith McCoy (tiếng Anh)

Nhân vật này là mẹ của Yusuke. Chỉ xuất hiện trong phần đầu của Anime, nhưng bà hiện ra với nhiều tính cách khác nhau, khi thì suốt ngày bia rượu, sau xỉn; khi thì đau buồn tột cùng với cái chết của con.

George[sửa | sửa mã nguồn]

George Saotome (ジョルジュ 早乙女)

Koto & Juri[sửa | sửa mã nguồn]

Ruka[sửa | sửa mã nguồn]

Ruka (瑠架)

Một số thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Reikai Tantei (Linh giới thám tử) - "Thám tử Linh giới" là tên được đặt cho những người bảo vệ thế giới con người (Ningenkai, nhân gian giới) không bị quấy rối từ ma quỷ, quái vật, và yêu quái xuất phát từ Ma giới (Makai). Thám tử Linh giới thường được Koenma, hoàng tử của Linh giới, thế giới của cái chết và linh hồn, lựa chọn. (Tên tiếng Anh trong anime là Spirit world detective)

Ningenkai (Nhân gian giới) Thế giới con người. (Tên tiếng Anh trong anime là Human world)

Reikai (Linh giới), thế giới của linh hồn, và những gì sau khi chết đi của cả quỷ và người. Một kiểu tương tự như Thiên đàng. (Tên tiếng Anh trong anime là Spirit world)

Makai (Ma giới) Thế giới nơi ma quỷ cư ngụ. (Tên tiếng Anh trong anime là Demon world)

Meikai (Minh giới) tương tự như Địa ngục, từng là nơi sau khi chết của ma quỷ, nhưng bị phong ấn sau khi người thống trị nó tìm cách chinh phục những vương quốc khác.

Reiki (Linh khí) Năng lượng linh hồn do con người sở hữu. (Tên tiếng Anh trong anime là Spirit energy)

Seikouki Loại năng lượng thần thánh do Sensui Shinobu và vài cư dân của Linh giới sở hữu.

Youki (Yêu khí) Năng lượng do ma giới sở hữu.

Phân hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ bậc của ma quỷ được chia theo bậc chữ. Hạng E là hạng quỷ yếu nhất, chỉ mạnh hơn một chút so với người bình thường. Trong khi đó, hạng S là hạng quỷ mạnh nhất. Mỗi cấp bậc cũng có hạng nhỏ hơn gồm có hạng thấp (hoặc -), trung, và cao (hoặc +). Ví dụ, hạng S có ba hạng nhỏ hơn: S-, S, và S+. Người ta không dùng chúng để phân hạng con người, và khi đánh giá sức mạnh con người, họ thường nói rằng sức mạnh cá nhân đó tương đương với một hạng quỷ nào đó. "S+" chỉ ra rằng cá nhân đó nằm ở thứ hạng cao nhất trong bậc thứ hạng. Trong Saga của Ba quốc vương, có vẻ như nhiều con quỷ đã vượt qua được hạng S cao, do đó YuYu Hakusho đã đưa vào hệ thống số. 80.000 trên hệ thống này tương đương với hạng B trung,120.000 là A trung, và 200.000 là S trung.

Hạng E trung 100

Hạng D trung 2.000

Hạng C trung 24.000

Hạng B trung 80.000

Hạng A trung 120.000

Hạng S thấp 150.000

Hạng S trung 200.000

Hạng S cao 1.000.000 trở lên

Rất thú vị là sức mạnh của Yusuke và những người bạn của cậu leo lên rất nhanh qua từng tập truyện. Vào đầu bộ truyện, Yusuke và Kuwabara chỉ có mức năng lượng hạng E. Đến Saga của Ba quốc vương, Kuwaraba sở hữu năng lượng hạng A trung và Yusuke sở hữu năng lượng hạng S cao. Sensui phải mất sáu năm để tăng lên sức mạnh hạng S thấp trong khi Yusuke đi từ hạng E lên hạng S cao chỉ trong vòng chưa đầy hai năm (mặc dù do những tình huống và kinh nghiệm đặc biệt). Đến trước Saga của Ba quốc vương, tất cả những người bạn và đồng minh của Yusuke đã mạnh hơn anh em Toguro, bao gồm cả những người vượt qua giải đấu hắc ám.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]