Emily Dickinson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Emily Dickinson

Ảnh của Emily Dickinson.
Sinh 10 tháng 12, 1830
Amherst, Massachusetts, Hoa Kỳ
Mất 15 tháng 5, 1886 (55 tuổi)
Amherst, Massachusetts, Hoa Kỳ
Công việc Nhà thơ

Emily Elizabeth Dickinson (10 tháng 12 năm 1830 – 15 tháng 5 năm 1886) là một nhà thơ Mỹ. Cùng với Walt Whitman, Emily Dickinson đã trở thành nhà thơ đặc sắc nhất của Mỹ trong thế kỉ 19.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Emily Dickinson sinh ở Amherst, Massachusetts. Học xong trường College, Emily Dickinson sống một cuộc sống thu mình, hầu như không ra khỏi nhà. Việc làm thơ của bà cũng không một ai biết. Tuy là một nhà thơ nổi tiếng, nhưng chỉ khoảng vài trên dưới một chục bài thơ của bà được xuất bản khi bà còn sống. Những bài thơ đầu tiên của bà được in năm 1890 nhưng không mấy ai để ý. Tuyển tập thơ đầu tiên chỉ được in ra vào năm 1955. Thế kỷ 20, Emily Dickinson được thừa nhận là một nhà thơ lớn của nước Mỹ. Bà là người đầu tiên trong thơ Mỹ sử dụng lối thơ hai câu liền vần (para-rhyme). Emily Dickinson để lại cho đời gần 2000 bài thơ. Những bài thơ nho nhỏ nhưng được đánh giá là đầy ắp những ý tưởng mới lạ và độc đáo. Thơ của Emily Dickison được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dickinson, Emily (2006). Emily Dickinson's Herbarium. Cambridge, Mass.: Belknap Press of Harvard University Press.
  • Farr, Judith; Louise Carter (2004). The Gardens of Emily Dickinson. Cambridge, Mass.; London: Harvard University Press.

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

47
Heart! We will forget him!
You and I - tonight!
You may forget the Warmth he gave -
I will forget the Light!
 
When you have done, pray tell me
That I may straight begin!
Haste! lest while you're lagging
I may remember him!
 
137
Water, is taught by thirst;
Land - by the Oceans passed.
Transport - by throe -
Peace - by its battles told -
Love, by Memorial Mold -
Birds, by the Snow.
 
224
I've nothing else - to bring, You know
So I keep bringing These-
Just as the Night keeps fetching Stars
To our familiar eyes-
 
Maybe, we shouldn't mind them-
Unless they didn't come-
Then - maybe, it would puzzle us
To find our way Home -
 
686
They say that "Time assuages" -
Time never did assuage-
An actual suffering strengthens
As Sinews do, with age-
 
Time is a Test of Trouble,
But not a Remedy-
If such it prove, it prove too
There was no Malady-
 
887
We outgrow love like other things
And put it in the Drawer -
Till it an Antique fashion shows -
Like Costumes Grandsires wore.
47
Nào, con tim! Về người ấy đêm này
Ta và mi hãy cùng quên lãng.
Ta sẽ quên nguồn sáng
Còn mi – nồng ấm, mê say.
 
Khi quên rồi, mi hãy nói cho ta
Để ta, sẽ bắt đầu tim nhé
Chứ bây giờ mi lần lữa
Thì ta vẫn cứ nhớ về.
 
137
Yêu nước – những ai trong cơn khát
Quí đất – người đang giữa đại dương
Vui vẻ, hân hoan chỉ biết đến khi buồn
Ai đang chiến đấu – kẻ yêu hoà bình nhất.
Còn ta yêu – là khi tình đã mất
Khi tuyết trắng trời ta lại nhớ về chim.
 
224
Em chẳng có gì mới mẻ với anh đâu
Bởi biết bao ngày ta đã sống
Bởi đêm vẫn gìn giữ những vì sao
Mà mắt ta đã quen nhìn ngắm.
 
Có thể không từng để ý hai ta
Nhưng nếu mà không có chúng
Thì đường trở về nhà
Tìm ra ta đã chẳng.
 
686
Nghe rằng: “Thời gian làm lành hẳn”
Thời gian không chữa khỏi bao giờ.
Nỗi đau giống như bắp cơ
Càng săn chắc theo năm tháng.
 
Nhưng thời gian sẽ kiểm tra
Qua khổ đau có còn lành lặn
Nghĩa là, ta buồn lo cho phí uổng
Nghĩa là ta chưa đau khổ bao giờ.
 
887
Ta chăm chút tình yêu giống như áo quần
Và sau đó ta đem cất vào tủ
Cho đến một khi chưa thành đồ cổ
Thì ta lấy ra từ đó và mang.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]