Hissène Habré

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hissène Habré (حسين حبري, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1942), cũng ghi là Hissen Habré, là lãnh đạo của Chad từ năm 1982 cho đến khi ông bị lật đổ vào năm 1990. Habré sinh năm 1942 Faya-Largeau, miền bắc Chad, lúc đó là một thuộc địa của Pháp. Ông được sinh ra trong một gia đình chăn nuôi gia súc. Ông là thành viên của chi nhánh Anakaza của dân tộc Daza, mà bản thân nó là một chi nhánh của dân tộc Toubou. Sau khi học tiểu học, ông có một chức vụtrong chính quyền thực dân Pháp, nơi ông đã gây ấn tượng với cấp trên của mình và đã đạt được một học bổng du học tại Pháp, tại Viện Nghiên cứu Đại học ở Paris. Ông đã hoàn thành với bằng đại học về khoa học chính trị ở Paris, và trở lại Chad vào năm 1971. Ông có nhiều bằng cấp khác nữa và cũng có học vị tiến sĩ từ viện này. Sau một khoảng thời gian ngắn làm cho chính phủ với chức phó quận trưởng, ông tới Tripoli và gia nhập Mặt trận Giải phóng Quốc gia Chad (FROLINAT) nơi ông trở thành một chỉ huy trong Quân giải phóng Thứ nhì của FROLINAT cùng với Goukouni Oueddei. Sau khi Abba Siddick nắm giữ chức lãnh đạo của FROLINAT, Quân đội Giải phóng Thứ nhì, lần đầu tiên dưới sự chỉ huy của Oueddei của và sau đó theo của Habré, tách ra từ FROLINAT và trở thành Hội đồng Tư lệnh các lực lượng vũ trang của miền Bắc (CCFAN). Năm 1976 Oueddei và Habré tranh cãi nhau và Habré chia Các lực lượng vũ trang của miền Bắc (Lực lượng Armées du Nord hoặc FAN) mới được tách ra từ những người theo Goukouni và chọn tên gọi Các lực lượng vũ trang nhân dân (lực lượng Armées Populaires FAP). Cả hai FAP và FAN hoạt động ở phía bắc cực đoan của Chad, thu nhận các chiến binh của họ từ những người du mục Toubou.