Jami

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Saint Jami
Jami, depicted in a monochrome Muslim miniature
Mystic, Spiritual Poet, Historian, Theologian
Sinh 1414 C.E.
Khorasan
Mất 1492 C.E.
Tôn kính Islam
Ảnh hưởng đến Prophets of Islam
Truyền thống Sufi poetry
Tác phẩm chính Haft Awrang

Nur ad-Din Abd ar-Rahman Jami (tiếng Ba Tư: نورالدین عبدالرحمن جامی) (18 tháng 8 năm 1414 – 19 tháng 11 năm 1492) là một nhà thơ lớn của Ba Tư thế kỷ XV. Jami được coi là người khép lại thời kỳ thơ cổ điển viết bằng tiếng Ba Tư.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Jami sinh ở Jam, Khorasan (nay là tỉnh Ghor của Afghanistan) trong một gia đình giáo chủ có thế lực. Học trường dòng ở Herat và Samarqand nhưng sau từ bỏ con đường danh lợi để theo giáo phái thần bí Sufism, dành trọn cuộc đời cho khoa họcthơ ca. Năm 1456 trở thành giáo chủ của vùng Heart. Từ năm 1447 là giai đoạn ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị nhất. Jami là người làm thơ nhiều thể loại như: qasida, ghazal, rubáiyát... Bình sinh đã được thừa nhận là một nhà thơ lớn của thế giới Hồi giáo. Di sản mà ông để lại rất đồ sộ, bao gồm khoảng 70 tác phẩm thơvăn xuôi về Tôn giáo, triết học, âm nhạc, ngữ pháplịch sử. Ông là người có ảnh hưởng lớn đến các nhà thơ của thế giới Hồi giáo nhiều thế kỷ sau đó.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Baharestan (Abode of Spring) Modeled upon the Gulestan of Saadi
  • Diwanha-ye Sehganeh (Triplet Divans)
  • Fawa ed Ziya'iya fi sah al'Kafiya
  • Haft Awrang (Seven Thrones) His major poetical work. The fifth of the seven stories is his acclaimed "Yusuf and Zulaykha", which tells the story of Joseph and Potiphar's wife based on the Quran.
  • Jame -esokanan-e Kaja Parsa
  • Lawa'ih A treatise on Sufism (Shafts of Light)
  • Nafahat al-Uns (Breaths of Fellowship) Biographies of the Sufi Saints
  • Resala-ye manasek-e hajj
  • Resala-ye musiqi
  • Resala-ye tariq-e Kvajagan
  • Resala-ye sarayet-e dekr
  • Resala-ye so al o jawab-e Hendustan
  • Sara-e hadit-e Abi Zarrin al-Aqili
  • Sar-rešta-yetariqu-e Kājagān (The Quintessence of the Path of the Masters)
  • Shawahidal-nubuwwa (Distinctive Signs of Prophecy)
  • Tajnīs 'al-luġāt (Homonymy/Punning of Languages) A lexicographical work containing homonymous Persian and Arabic lemmata.
  • Tuhfat al-ahrar (The Gift of the Free)

Một vài bài thơ dịch sang tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Jami và bố
Jami lúc trẻ
Bìa một tác phẩm của Jami
***
 
Nhắm mắt lại – em hiện trước mắt anh
Mở mắt ra – lại vẫn thấy bóng hình
Nhìn thấy em cả trong đời, trong mộng
Bằng sắc đẹp của mình em bỏ bùa anh.
 
***
 
Tai hoạ cho ai con tim không còn đập
Ai đã thôi yêu, hoa hồng ai đã gục.
Em nói: "Đi đi!" Sao thế hở ông trời
Ai cho phép hồn giã từ với xác?
 
***
 
Em xuống vườn cho hoa hồng thêm đẹp
Nhìn thấy em chim hoạ mi vui hót
Em nhẫn tâm để anh phải đau buồn
Tỏ lòng thương ngay cả hòn đá chết.
 
***
 
Không có em anh đưa chén lên môi
Nhưng uống rượu với nỗi buồn chia đôi
Đôi mắt đen làm ngày anh xao xuyến
Chỉ những ngày đen khi em đã xa rồi.
 
***
 
Nói với tim: "Cho tôi được nghỉ ngơi
Tôi mệt mỏi, con đường quá xa xôi.
Hãy nghiêm khắc với con người phụ bạc
Với con người đã từng dối lừa tôi".
 
***
 
Em xa anh, để anh khổ với tình
Một nỗi đau ngự trị giữa lòng anh.
Anh khó sống… Rồi khi em đến muộn
Để thở dài trên ngôi mộ của anh.
 
***
 
Khi xuân về, anh cảm tạ trời xanh
Hoa nở khắp nơi, trong rừng, ngoài đồng
Anh ra nghĩa địa với niềm hy vọng
Thấy hình em trong hoa huệ hồi sinh.
 
***
 
Hình dáng em nếu một lần ai thấy được
Thì không thể nào trong lòng không thổn thức
Xa em đã lâu, anh vẫn sống và kinh ngạc một điều:
Anh không chết mà còn thở và suy nghĩ được.
 
***
 
Đừng kết bạn với người dại hơn mình
Hãy luôn luôn tìm những người xứng đáng.
Nhưng cũng đừng quấy rầy người cao thượng
Bởi người ta cũng muốn kẻ hơn mình.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]