Key

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhật Bản Key
Key Visual Arts Logo.svg
Loại hình Tư nhân
Ngành nghề Trò chơi máy tính
Thể loại Eroge & Visual novel
Tình trạng Đang hoạt động
Thành lập Nhật Bản Osaka, Nhật Bản
21 tháng 7 năm 1998 (1998-07-21) (16 năm trước)
Trụ sở chính Nhật Bản Kita, Osaka, Nhật Bản
Khu vực hoạt động Nhật Bản
Thành viên
chủ chốt
Maeda Jun (Đồng sáng lập)
Orito Shinji (Đồng sáng lập)
Hinoue Itaru (Đồng sáng lập)
Sản phẩm Kanon
AIR
CLANNAD
Danh sách đầy đủ
Nhân viên 10
Công ty mẹ Visual Art's
Website key.visualarts.gr.jp

Key là một hãng visual novel được thành lập vào ngày 21 tháng 7, 1998 dưới hình thức là một trong những thương hiệu của nhà xuất bản Visual Art's, đặt trụ sở tại Kita, Osaka, Nhật Bản. Key phát hành visual novel đầu tay của họ là Kanon vào tháng 6 năm 1999 với một cốt truyện được xây dựng chi tiết kết hợp với nét vẽ theo phong cách anime hiện đại và âm nhạc hoàn hảo, những yếu tố đó đã tạo nên nhiều cảm xúc đối với người chơi. Trò chơi thứ hai của Key là AIR, ra mắt vào tháng 9 năm 2000, cũng mang hình thức tương tự, trừ việc cốt truyện được xây dựng phức tạp hơn và triệt để hơn Kanon về lối chơi. Ban đầu, KanonAIR đều được sản xuất thành dạng trò chơi chỉ dành cho người trên 18 tuổi (eroge) với nhiều cảnh khiêu dâm, nhưng Key đã phá vỡ khuynh hướng này với tựa game thứ ba của họ là CLANNAD, ra mắt vào tháng 4 năm 2004, dành cho mọi lứa tuổi. Key vừa phát hành trò chơi thứ chín và cũng là sản phẩm mới nhất của họ, Rewrite, vào tháng 6 năm 2011. Tất cả các tựa game trước đây của Key đều được phát hành cho hệ máy tính cá nhân bởi Visual Art's, và nhiều phiên bản console khác cũng đã ra mắt thông qua InterchannelPrototype. Key đã hợp tác với Dengeki G's Magazine của ASCII Media Works để sản xuất một dự án truyền thông hỗn hợp có tên là Angel Beats!, nó được đúc kết lại thành một bộ anime và đã phát sóng từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2010 tại Nhật Bản. Một số sản phẩm trò chơi của Key cũng được chuyển thể thành anime và được đông đảo công chúng, cả trong lẫn ngoài nước, đón nhận.

Nhà đồng sáng lập Maeda Jun là một nhân vật nổi bật trong công ty, ông tham gia đóng góp kịch bản, lập kế hoạch và soạn nhạc cho hầu hết các visual novel của Key. Hinoue Itaru, cũng là một đồng sáng lập, là nghệ sĩ chính của Key và là chỉ đạo nghệ thuật duy nhất cho ba tác phẩm đầu của công ty này. Na-Ga, một nghệ sĩ nổi bật trong công ty, chủ yếu làm việc trong khâu đồ họa phông nền cho các trò chơi trước đó, nhưng ông đã trở thành đồng chỉ đạo nghệ thuật với Hinoue trong tựa game thứ sáu là Little Busters!, đồng thời là người thiết kế hầu hết nhân vật trong Kud Wafter. Orito Shinji, một đồng sáng lập khác kiêm nhạc sĩ chính của Key, tham gia sản xuất âm nhạc cho toàn bộ các tựa game của công ty. Tonokawa Yūto, một nhà biên kịch, làm việc đầu tiên với kịch bản của Little Busters! và trở thành chủ bút chính thay thế cho Maeda Jun kể từ tác phẩm này, ông cũng viết phần lớn kịch bản cho Rewrite. Ngoài ra, còn nhiều nhân viên khác đang cộng tác với Key từ khâu đồ họa đến giám sát sản xuất, phần lớn trong số đó là nhân viên thuê ngoài.

Key cũng tích cực tham gia hội nghị Comiket kể từ Comiket 57 vào tháng 12 năm 1999, nơi họ tổ chức giới thiệu và bán các sản phẩm liên quan đến Kanon; lần xuất hiện mới nhất của Key tại Comiket là vào dịp Comiket 79 diễn ra vào tháng 12 năm 2010. Năm 2001, Visual Art's thành lập hãng thu âm Key Sounds Label nhằm mục đích phát hành các album nhạc và đĩa đơn chứa các nhạc phẩm dùng trong các visual novel của Key. Tháng 12 năm 2007, Key bắt đầu quảng bá các sản phẩm của họ thông qua Key Net Radio, một chương trình phát thanh trên internet do công ty tự tổ chức, tuy nhiên chương trình đã tạm ngưng hoạt động sau khi buổi phát sóng thứ 30 xuất xưởng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi Key ra đời, các sáng lập viên lúc bấy giờ đang làm việc cho một công ty phát triển visual novel khác là Tactics. Vào thời điểm sản xuất Dōsei, tựa game đầu tay của Tactics, có bốn nhân viên đầu tiên của Key đã tham gia phát triển trò chơi này: Hinoue Itaru làm chỉ đạo nghệ thuật, Orito Shinji với vai trò soạn nhạc, còn Miracle Mikipon và Shinory thì hỗ trợ khâu đồ họa vi tính. Sau khi phát hành Dōsei, những nhà sáng lập cuối cùng của Key đã gia nhập Tactics và họ cùng tham gia đóng góp cho hai visual novel khác là MOON.ONE ~Kagayaku Kisetsu e~. Ngay sau khi ONE ra mắt vào ngày 26 tháng 5 năm 1998, nhiều nhân viên sản xuất đã chuyển sang làm việc cho công ty Visual Art's, và họ cùng nhau thành lập Key vào ngày 21 tháng 7 năm 1998, việc đặt tên cho hãng này được duyệt chọn theo ý kiến số đông[1]. Key phát hành tác phẩm đầu tay của họ là Kanon vào ngày 4 tháng 6 năm 1999, nó là một trò chơi dành cho người lớn[2], tuy vậy những cảnh quan hệ tình dục đã được giữ ở mức tối thiểu. Cải tiến này đã giúp người chơi tập trung nhiều hơn vào cốt truyện của các nhân vật chính, thêm vào đó là hiệu ứng hình ảnh và âm thanh hoàn hảo đã giúp visual novel này gây được nhiều sự chú ý tại thời điểm mà nó ra mắt. Một năm sau, vào ngày 8 tháng 9 năm 2000, Key phát hành trò chơi thứ hai của họ là AIR, đây cũng là một game dành cho người lớn và hiệu quả cảm xúc của nó cũng thành công như Kanon[3].

Tựa game thứ ba của Key là CLANNAD cũng tương tự như hai visual novel trước đó, nhưng đây là một trò chơi hoàn toàn sạch sẽ, không chứa đựng nội dung người lớn. Ban đầu, CLANNAD được dự định sẽ phát hành nội trong năm 2002 nhưng đã bị trì hoãn, và cuối cùng nó ra mắt vào ngày 28 tháng 4 năm 2004[4], trễ hơn kế hoạch đến hai năm. Bảy tháng sau khi CLANNAD phát hành, Key tung ra trò chơi ngắn nhất của họ, planetarian ~Chiisana Hoshi no Yume~, vào ngày 29 tháng 11, 2004[5]. Trái ngược với những sản phẩm trước của Key, planetarian tuy vẫn theo lối tuyến tính nhưng lại không đưa ra bất kì sự lựa chọn nào cho người chơi, họ chỉ việc ngồi xuống và thưởng thức cốt truyện y hệt như đang xem một bộ anime, đây là những gì mà mọi người thường gọi là "kinetic novel". Tomoyo After ~It's a Wonderful Life~, visual novel thứ năm của Key, là một trò chơi dành cho người lớn và là spin-off của CLANNAD, phát hành vào ngày 25 tháng 11 năm 2005, nó mở rộng thêm kịch bản của nhân vật nữ chính Sakagami Tomoyo trong CLANNAD[6]. Key ra mắt trò chơi thứ sáu của họ là Little Busters! vào ngày 27 tháng 7, 2007 không chứa nội dung người lớn với công nghệ đồ họa được cải tiến rõ rệt[7]; nhưng phiên bản mở rộng của nó và cũng được tính là tựa game thứ bảy của Key, Little Busters! Ecstasy, phát hành ngày 25 tháng 7 năm 2008, đã thêm vào một số kịch bản và hình ảnh mới, bao gồm các cảnh hentai[8][9]. Little Busters! Ecstasy cũng là tác phẩm dài nhất tính đến thời điểm hiện tại của Key[10].

Trò chơi thứ tám của Key, phát hành ngày 25 tháng 6 năm 2010, là một spin-off dành cho người lớn của Little Busters! Ecstasy mang tên Kud Wafter, nó mở rộng thêm kịch bản của nhân vật nữ chính Noumi Kudryavka trong Little Busters!Ecstasy[11]. Key phát hành trò chơi thứ chín và cũng mới nhất của họ với nhan đề Rewrite, vào ngày 24 tháng 6 năm 2011[12]. Trong lễ kỷ niệm mười năm thành lập Key, Key và Visual Art's đã tổ chức một sự kiện kéo dài hai ngày từ 28 tháng 2 đến 1 tháng 3, 2009 mang tên "Key 10th Memorial Fes, Our Song to Pass the Time That Began From That Day" (~あの日から始まった僕らの時を刻む唄~ ~Ano Hi kara Hajimatta Bokura no Toki o Kizamu Uta~?)[13]. Key còn hợp tác với Dengeki G's Magazine của ASCII Media Works để sản xuất một dự án truyền thông hỗn hợp mang tên Angel Beats!, nó được đúc kết thành một bộ anime cùng tên và đã phát sóng từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2010 tại Nhật Bản[14].

Key Sounds Label[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Key Sounds Label

Năm 2001, Visual Art's thành lập hãng thu âm Key Sounds Label (KSL)[15] Các album nhạc và đĩa đơn do Key phát hành từ đó về sau đều mang nhãn hiệu này, có nghĩa là không tính hai album đầu tiên và một đĩa đơn ra mắt trước khi hãng này chính thức thành lập. Album đầu tiên của Key Sounds Label là Humanity..., nhạc phẩm này hầu như không có liên quan gì đến các tác phẩm của Key ngoại trừ phiên bản remix cho ca khúc chủ đề mở đầu của AIR. Mọi album do Key Sounds Label phát hành đều được thực hiện bởi các nhà soạn nhạc chủ chốt của Key: Maeda Jun, Orito ShinjiTogoshi Magome. Ba trong số các đĩa đơn hoàn toàn chỉ được hát bởi Lia và một album, Love Song, trình bày bởi Riya của ban nhạc Eufonius. Ba CD drama cũng đã được phát hành[15].

Nhân dịp sinh nhật Key tròn 10 tuổi (1998-2008), công ty đã tổ chức một buổi hòa nhạc gọi là KSL Live World 2008 ~Way to the Little Busters! EX~ vào ngày 10 tháng 5, 2008 ở Tōkyō, Nhật Bản và trình diễn lại vào ngày 17 tháng 5, 2008 ở Osaka, Nhật Bản. Mỗi lần diễn kéo dài hai tiếng rưỡi đồng hồ với những giọng ca tiêu biểu là Lia, Rita, ChataTamiyasu Tomoe, những người đã từng trình bày các album và đĩa đơn do Key Sounds Label phát hành trước đó[16]. Một buổi hòa nhạc khác mang tên KSL Live World 2010 ~Way to the Kud-Wafter~ đã được tổ chức tại Tōkyō từ 21 đến 22 tháng 5 năm 2010, những ca sĩ góp giọng là Suzuki Keiko, Suzuta Miyako, Tada Aoi, Tamiyasu Tomoe, Chata, Marina, Lia, LiSA, Rita và nhóm Eufoniu[17].

Key Net Radio[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Key Net Radio

Key bắt đầu sản xuất một chương trình phát thanh trên internet gọi là Key Net Radio (Keyらじ Key Raji?), điều hành bởi chính công ty với buổi phát thanh đầu tiên thực hiện ngày ngày 13 tháng 12, 2007[18]. Những phát thanh viên gồm Orito ShinjiHinoue Itaru của Key, và một người phụ nữ khác tên là Chiro làm việc cho Pekoe, một hãng visual novel khác cũng thuộc Visual Art's[19]. Thính giả có thể gửi những cảm nghĩ và bất cứ đề xuất nào của họ về chương trình, tất cả cùng với các câu hỏi sẽ được đưa lên tổng đài để ba người tổ chức giải đáp[20]. 30 buổi phát thanh đầu tiên luôn có sẵn để tải về từ website chính thức của Key và 9 buổi đầu có thể tải về từ blog chính thức của chương trình[19][21]. Các chương trình đã phát sóng cũng có thể nghe và xem tại kênh YouTube của Visual Art's mang tên Visual Channel[22]. Từ chương trình thứ 30 đến nay chưa có buổi phát thanh mới nào được sản xuất.

Trong sáu buổi phát thanh đầu tiên, chương trình được chia thành năm phần, bắt đầu với những lời chào mừng của phát thanh viên và tiếp nối bằng những cảm nghĩ và ấn tượng đối với chương trình do thính giả gửi đến. Tiếp theo là một đoạn các phát thanh viên đối thoại một cách thân mật với nhau, rồi sau đó các phát thanh viên đọc thư từ các thính giả về sự hăng hái của họ đối với Key. Phần thứ tư là giải đáp những thắc mắc có liên quan do thính giả gửi đến, và cuối cùng là tiết mục thổi sáo của Orito; thính giả có thể gửi ý kiến về những nhạc phẩm của anh[19]. Hai phần nữa đã được thêm vào từ buổi phát sóng thứ bảy. Phần đầu tiên được thêm liên quan đến các chuyện kinh dị mà các phát thanh viên có thể tự kể hay đọc lại từ thư của thính giả, và được thêm một phần cũng vì Hinoue thích các chuyện theo thể loại này. Phần thêm vào tiếp theo là nhiều bản đề nghị của thính giả miêu tả một nhân vật hư cấu mới, và Hinoue sẽ tiếp nhận các ý kiến đó để tạo ra nhân vật mới kết hợp yêu cầu của người hâm mộ. Những bản nhạc nền từ các soundtrack phát hành dưới nhãn Key Sounds Label sẽ được chơi suốt buổi phát sóng.[19]

Tham gia Comiket[sửa | sửa mã nguồn]

Comiket, viết tắt của Comic Market, là một hội nghị truyện tranh có qui mô lớn được tổ chức hai lần một năm tại Tōkyō, Nhật Bản vào tháng 8 và tháng 12 (Comic Market mùa hè và mùa đông). Key đã tích cực tham gia hội nghị từ Comiket 57 diễn ra vào tháng 12 năm 1999, nơi họ rao bán các mặt hàng liên quan đến Kanon (lúc bấy giờ là sản phẩm duy nhất của họ); một trong những sản phẩm này là một chiếc bật lửa Zippo[23]. Các sản phẩm đầu tiên của AIR đã được bán trong Comiket 59 diễn ra vào tháng 12 năm 2000[24]. Những món hàng thường thấy là: bưu thiếp, thẻ điện thoại, lịch, poster và album[24][25][26][27][28]. Mọi sản phẩm mà Key bán tại Comiket đều liên quan đến các visual novel của công ty[24][25][26][27][28]

Key, đại diện cho Visual Art's, thường tham gia Comiket mùa đông cùng với các thương hiệu khác của Visual Art's, nhưng cũng từng xuất hiện tại Comiet mùa hè, chẳng hạn như Comiket 70 diễn ra vào tháng 8 năm 2006, nơi họ bán các mặt hàng liên quan đến planetarian ~Chiisana Hoshi no Yume~[29]. Tổng các sản phẩm mà Key đã bán tại Comiket có giá dao động từ 3.000¥ (khoảng 27$) đến 5.000¥ (khoảng 45$)[25][26][28][30][31][32]. Trong đó bao gồm các album nhạc phát hành dưới nhãn hiệu hãng thu âm Key Sounds Label của Key từ Comiket 60, diễn ra vào tháng 8 năm 2001 với sự ra đời của hai album đầu tiên mang nhãn hiệu này là Humanity... và "Natsukage / Nostalgia". Nếu vẫn còn sản phẩm tồn kho khi Comiket kết thúc, Visual Art's sẽ giải quyết bằng cách sử dụng hệ thống email đặt hàng trực tuyến để bán hết các mặt hàng từ những thương hiệu của họ. Sau Comiket 73 vào tháng 12 năm 2007, Visual Art's bắt đầu nhận đơn đặt hàng qua email từ ngày 4 tháng 3, 2008 và chỉ sáu ngày sau đó vào ngày 10 tháng 3 năm 2008, Key thông báo rằng toàn bộ những món hàng còn dư lại của họ sau Comiket 73 đã được thu mua sạch sẽ[33][34]. Vào cuối ngày thứ hai của Comiket 75 diễn ra vào tháng 12 năm 2008, món hàng cuối cùng của Key trong dịp hội nghị này đã được bán thành công[35].

Nhân viên[sửa | sửa mã nguồn]

Chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ nhân viên chính thức của Key đều làm việc dưới sự điều hành từ công ty mẹ của hãng, Visual Art's. Hầu hết các thành viên chủ chốt đã gia nhập Key ngay từ những ngày đầu tiên thành lập, và họ đã tự xử lý những công việc đầu tiên trong nhiều lĩnh vực do thiếu người. Maeda Jun là người lập kế hoạch phát triển các dự án của cá nhân ông và là nhà biên kịch chính cho nhiều sản phẩm của công ty; ông cũng soạn nhạc cho tất cả trò chơi của Key, ngoại trừ planetarian[36][37][38]. Maeda đã tuyên bố trên tạp chí Comptiq, đăng trong số ra tháng 2 năm 2007, rằng sau khi hoàn tất Little Busters!, ông sẽ không tham gia viết kịch bản cho Key nữa[39]. Tuy nhiên, trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 12 cùng năm của tạp chí Dengeki G's Magazine, Maeda cho biết ông vẫn sẽ tiếp tục sự nghiệp âm nhạc của mình trong các tựa game tới của Key[40]. Hinoue Itaru là họa sĩ chính và giữ chức chỉ đạo nghệ thuật cho ba trò chơi đầu tiên của Key[41]. Các nhân vật do Hinoue thiết kế được đánh giá là rất moe (dễ thương) và phong cách vẽ của bà được người hâm mộ gọi là "Itaru-e" (いたる絵? có nghĩa là "nét vẽ của Itaru")[42][43][44][45]. Na-Ga, một họa sĩ nổi bật trong công ty, chủ yếu thực hiện khâu đồ họa cảnh nền (CG) đầu tiên cho AIR, đã ngồi lên chiếc ghế đồng chỉ đạo nghệ thuật cùng với Hinoue Itaru trong Little Busters!, EcstasyKud Wafter[7][46]. Bốn nghệ sĩ khác cũng đảm nhận công việc đồ họa vi tính hiện còn cộng tác với Key là Shinory, Mochisuke, Tayama Minimo và Torino[47][48]. Nhạc sĩ chính của Key, Orito Shinji, đã soạn nhạc cho toàn bộ visual novel của công ty[49]. Từ khi Maeda từ bỏ công việc kịch bản, một nhà biên kịch mới là Tonokawa Yūto, gia nhập Key và làm việc trước tiên với Little Busters!, đã được đưa lên vị trí viết kịch bản chính kể từ Rewrite[50][51]. Tonokawa cũng phổ lời cho một số ca khúc của Key[51]. Shimizu Jun'ichi gia nhập Key từ năm 2009 và đứng đầu công việc soạn nhạc cho Kud Wafter[52][53].

Đã từ chức và thuê ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nhân viên của Key đã rời khỏi công ty theo thời gian, hoặc là đã có một thời gian ngắn cộng tác với những đóng góp thuê ngoài. Hisaya Naoki là một trong số những nhân viên chính thức ban đầu của Key, ông đã viết phần lớn kịch bản cho Kanon[47], nhưng sau khi dự án này hoàn tất, ông xin từ chức và rời khỏi công ty; Hisaya sau đó nổi danh với tác phẩm Sola vì là người viết kịch bản gốc[54]. Một nhân viên khác trong nhóm phát triển KanonOdiakeS, một nhạc sĩ thuê ngoài đã giúp đỡ Key tạo ra hai album nhạc, một cho AIR và một cho CLANNAD, nhưng đã không còn liên lạc với công ty từ năm 2004[55]. Hai nhân viên khác chỉ cộng tác với Key trong AIR: Ishikawa Takashi là một trong hai nhà biên kịch chính[56], Fujii Kazuki với vai trò trợ lý kịch bản[47]. Din, họa sĩ đồ họa cảnh nền cho KanonAIR, đã từ chức khi dự án AIR hoàn tất và chuyển sang làm cho công ty khác[47]. AIRCLANNAD có sự trợ giúp của Okano Tōya và Kai trong phần kịch bản[47]; sau này chỉ còn Kai quay lại và đứng đầu dự án Kud Wafter trong khâu lập kế hoạch và thiết kế[57]. Một trong những họa sĩ đồ họa vi tính đầu tiên là Miracle Mikipon, đã rời khỏi Key sau CLANNAD[47]. Một nhà biên kịch đáng chú ý khác là Suzumoto Yūichi, cộng tác với Key từ AIR đến planetarian[58]; Suzumoto tiếp tục làm việc cho nhiều thương hiệu khác của Visual Art's cho đến tháng 9 năm 2005, khi ông đệ đơn từ chức và rời khỏi công ty[59]. Komatsu Eeji làm chỉ đạo nghệ thuật cho Key chỉ trong planetarian[60], và một họa sĩ khác, Fumio, chỉ giữ chiếc ghế chỉ đạo nghệ thuật trong Tomoyo After[61]. Kashida Leo là nhà văn thuê ngoài, đóng góp trong Tomoyo AfterLittle Busters![7][62]. Shirokiri Chika, một nhà văn thuê ngoài, tham gia viết kịch bản cho Little Busters![7][62], và sau đó là người viết kịch bản chính trong Kud Wafter[63]. Hai nhà soạn nhạc, Manack và PMMK hỗ trợ phần âm nhạc trong Little Busters!, và MintJam là người hòa âm lại các nhạc phẩm này[7]. Togoshi Magome, tham gia Key kể từ AIR, giữ vai trò là một trong những nhạc sĩ chủ chốt của công ty, nhưng ông đã từ chức vào tháng 10 năm 2006, sau khi kết thúc công việc trong Little Busters![64]. Hai nhà văn thuê ngoài khác đã trợ giúp Key trong khâu kịch bản của RewriteRyukishi07 của nhóm 07th Expansion, và Tanaka Romeo.[50]

Tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Lá thẻ bài Lycèe Trading Card Game in hình nhân vật Hoshino Yumemi trong planetarian ~Chiisana Hoshi no Yume~.

Theo tác phẩm A History of Adult Games của Todome Satoshi, Key đã tạo ra nhiều tác động đến thế giới visual novel (mà chủ yếu là biến thể của game người lớn) ngay từ khi công ty còn chưa thành lập và hầu hết các sáng lập viên đang cộng tác với hãng Tactics của Nexton[65]. Chịu ảnh hưởng từ visual novel To Heart của Leaf phát hành năm 1997, những nhân viên của Key tại Tactics đã hình thành nên tên gọi cho một khái niệm mới của trò chơi: mở đầu là những khoảnh khắc lãng mạn nồng ấm xen lẫn hài hước, kế đến là nỗi đau của sự chia cắt và mất mát, cuối cùng là sự tái hợp của những khung bậc cảm xúc; đây gọi là nhánh "crying game" (game khóc) của dòng bishōjo, mà sau này đã giúp tạo ra thể loại Nakigē (泣きゲー?) và phát triển thành một hướng đi mới cho các visual novel đời kế tiếp[65][66][67]. Mục đính chính của dạng trò chơi như vậy là giúp người chơi có mối đồng cảm sâu sắc với các nhân vật và bật khóc vì các tình huống bi kịch, để lại một ấn tượng và tác động lớn đến tâm lý người chơi sau khi họ hoàn thành tác phẩm[65]. Tựa game thứ ba của Tactics là ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ đã được phát triển dựa trên khái niệm này.

Sau khi hoàn thành ONE, nhóm phát triển đã bỏ Tactics và thành lập Key, đó là nơi họ cho ra đời siêu phẩm Kanon, cũng dựa trên khái niệm này[65]. Kanon được "thổi phồng lên nhiều khi quảng cáo [và] có những game thủ đã thiếu kiên nhẫn cho đến ngày nó ra mắt. Nó, cho đến thời điểm này, chỉ là một trò chơi điện tử do Key phát hành, nhưng [nó] đã tạo ra một cơn sóng chấn động đến toàn ngành công nghiệp. Và một trò chơi khác [AIR], hai năm sau đó, thậm chí còn gây chấn động hơn cả. AIR cũng được cường điệu lên và đều được đón nhận như nhau."[42][43][68][69][70][71][72] Kanon là một bước ngoặt lớn của bishōjo game, trái với các tựa game trước luôn chú trọng đến những cảnh quan hệ tình dục, trò chơi này đã giúp người chơi tập trung nhiều hơn vào việc tận hưởng âm nhạc và kịch bản, đồng thời "có được những trải nghiệm mới về một tình cảm trong sáng và sự đau khổ đến nghẹn ngào"[73]. Sự thành công của ONE và nhất là Kanon đã củng có tên gọi "crying game", dần dần khái niệm này được áp dụng cho các visual novel khác của những hãng chịu ảnh hưởng từ Key. Điển hình gồm: Kana ~Little Sister~ của Digital Object, dòng Memories Off của KID, D.C.: Da Capo của Circus, Snow của Studio Mebius (cũng thuộc Visual Art's) và Wind ~A Breath of Heart~ của Minori.[65]

Ryukishi07 của nhóm 07th Expansion đã viết về việc ông chịu ảnh hưởng từ Key như thế nào để áp dụng trong khâu kế hoạch của Higurashi no Naku Koro ni vào năm 2004[74]. Ryukishi07 đã từng chơi các trò chơi của Key, cùng nhiều hãng visual novel khác, nhằm mục đích tham khảo, và phân tích chúng để tìm ra lý do tại sao chúng trở nên nổi tiếng. Ông đã phát hiện ra bí mật đó là cái cách mà kịch bản được tạo dựng để hình thành nên một cốt truyện với phần mở đầu rất bình thường, mỗi ngày lại khám phá ra những chuyện thú vị và mới mẻ, nhưng sau đó bi kịch sẽ bất ngờ xuất hiện khiến người chơi bị sốc và bật khóc. Ông đã dùng mô hình tương tự cho khái niệm cơ bản của Higurashi nhưng thay vì khiến người chơi khóc, Ryukishi07 muốn tạo cảm giác sợ hãi cho họ bằng cách thêm vào các yếu tố kinh dị. Làm như vậy, Ryukishi07 hy vọng trở thành một đối tác với Key, công ty mà ông mô tả là "hãng sản xuất kiệt tác".[74]

Key là một trong mười bảy thương hiệu của Visual Art's tham gia trò chơi Lycèe Trading Card Game do Broccoli sản xuất. Ba trong số bốn bộ thẻ bài đầu tiên của Visual Art's đã in hình các nhân vật từ năm visual novel đầu tiên của Key[75]; từ bộ thứ năm đến thứ bảy có sự góp mặt của các nhân vật trong bốn trò chơi kế tiếp[75]. Những nhân vật trong chuyển thể anime của Kanon, AIRCLANNAD được vinh hạnh có một bộ thẻ bài riêng[75]. Ngoài ra còn có nhiều tấm in hình các nhân vật của Key trong tổng số 728 thẻ bài khuyến mại cực hiếm[76]. Một số hãng visual novel có tên tuổi lớn khác cũng xuất hiện trong các thẻ bài, đó là: AliceSoft, August, Leaf, NavelType-Moon.[77]

Leaf, Key BBS[sửa | sửa mã nguồn]

Một bảng công báo hệ thống (BBS) có giao diện dựa trên diễn đàn internet có tiếng ở Nhật Bản, 2channel (2ch), được thành lập vào ngày 26 tháng 1, 2000 với tên "Leaf, Key BBS" (leaf,key掲示板 leaf,key Keijiban?), hay còn có biệt danh là "Leaf-Key Board" (葉鍵板 Ha-Kagi Ita?)[78][79]. BBS này bắt nguồn từ diễn đàn thảo luận trò chơi điện tử của 2ch do một tranh chấp liên quan đến trò chơi Kizuato vào tháng 12 năm 1999[78]; Kizuato là trò chơi đầu tay của Leaf, một công ty sản xuất visual novel nổi tiếng khác. Cuối cùng, người hâm mộ tựa game này chuyển sang thảo luận tại diễn đàn game người lớn của 2ch, nhưng ở đó sự việc cũng không được giải quyết nhiều hơn, đồng thời người hâm mộ Key trên diễn đàn dần ít quan tâm hơn đến các cuộc thảo luận về Kanon và, tại thời điểm đó, trò chơi sắp tới của công ty là AIR. Kết quả, những fan của Leaf và Key chuyển dần các cuộc thảo luận từ 2ch đến một không gian mới thành lập trên diễn đàn internet PINKchannel[79]. Những hoạt động của diễn đàn này đều thảo luận mọi vấn đề liên quan đến Leaf và Key. Bao gồm cả những sản phẩm sản xuất, về những nhân viên và về cả chính hai công ty này. BBS đạt đến mốc 900 bài đăng vào tháng 3 năm 2010. Giống như 2ch, BBS có một nhóm vô danh đăng bài được thiết lập mặc định với tên "Nanashi-san Dayomon" (名無しさんだよもん?), bắt nguồn từ nhân vật nữ chính Nagamori Mizuka trong ONE ~Kagayaku Kisetsu e~, người thường dùng các từ "dayo" và "mon" khi giao tiếp.[79]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tonokawa Yūto (7 tháng 7 năm 2008). “Answering Questions Journal” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2008. “Lúc đó, các nhân viên đã quyết định theo ý kiến số đông. (当時のスタッフの多数決で決まったようです。)” 
  2. ^ “Kanon's visual novel official website” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  3. ^ “Air's visual novel official website” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  4. ^ “Clannad's visual novel official website” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  5. ^ “Planetarian's visual novel official website” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  6. ^ “Tomoyo After's visual novel official website” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  7. ^ a ă â b c “Little Busters! products page” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  8. ^ Visualstyle web magazine January 2008 issue” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. 28 tháng 12 năm 2007. tr. 23. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2008. 
  9. ^ Little Busters! Ecstasy official website” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2008. 
  10. ^ Tonokawa Yūto (26 tháng 6 năm 2008). Little Busters EX Development Journal” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2008. 
  11. ^ “クドわふたー Key Official HomePage” [Kud Wafter Key Official HomePage] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  12. ^ “Rewrite Key Official HomePage” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011. 
  13. ^ “Key 10th Memorial Fes official website” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2008. 
  14. ^ “Key's Angel Beats! Project Gets TV Anime Green-Lit” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 27 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  15. ^ a ă “Key Sounds Label discography” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2007. 
  16. ^ “Presenting Information on an Event - KSL Concert” (bằng tiếng Nhật). Key. 14 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2008. 
  17. ^ “KSL Live World 2010 ― way to the Kud-Wafter” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2010. 
  18. ^ “Key's official blog entry on the radio's first recording” (bằng tiếng Nhật). Key. 13 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2007. 
  19. ^ a ă â b “Key Net Radio section at Key's official website” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2007. 
  20. ^ “Key Net Radio's submission form” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2007. 
  21. ^ “Key Net Radio's official blog” (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2007. 
  22. ^ “Visual Channel official website” (bằng tiếng Nhật). YouTube. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2008. 
  23. ^ “Image of a Kanon Zippo lighter sold originally at Comiket 57”. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  24. ^ a ă â “Key's Comiket 59 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  25. ^ a ă â “Key's Comiket 63 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  26. ^ a ă â “Key's Comiket 71 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  27. ^ a ă “Key's Comiket 73 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  28. ^ a ă â “Key's Comiket 79 products” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  29. ^ “Key's Comiket 70 products” (bằng tiếng Nhật). Key. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  30. ^ “Brands under Visual Art's that participated at Comiket 65” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  31. ^ “Brands under Visual Art's that participated at Comiket 67” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  32. ^ “Brands under Visual Art's that participated at Comiket 69” (bằng tiếng Nhật). Visual Art's. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2008. 
  33. ^ “Comiket 73 Goods Via Mail Order Has Begun” (bằng tiếng Nhật). Key. 4 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008. 
  34. ^ “Comiket 73 Goods Sold Out!” (bằng tiếng Nhật). Key. 10 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008. 
  35. ^ “Comiket 75 Second Day Journal” (bằng tiếng Nhật). Key. 29 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2008. 
  36. ^ Câu thoại gốc: 自分の書いた曲では一番気に入ってます。
    Dịch tiếng Việt: "Trong số những nhạc phẩm do chính tay mình viết, tôi thích một bài ["Zankō"] nhất."
    Kanon Original Soundtrack booklet, tr.4.
  37. ^ “Chudah's Corner on the Kanon Original Soundtrack (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2007. 
  38. ^ “Jun Maeda's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007. 
  39. ^ “Getchu.com's yearly Bishōjo Game Ranking poll results for best overall game titles from 2007” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2008. 
  40. ^ “Jun Maeda and Shinji Orito Interview”. Dengeki G's Magazine (tháng 12 năm 2007) (MediaWorks) 
  41. ^ “Itaru Hinoue's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  42. ^ a ă “エディターレビュー Kanon” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  43. ^ a ă “エディターレビュー AIR” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  44. ^ “エディターレビュー CLANNAD” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  45. ^ “エディターレビュー Little Busters!” (bằng tiếng Nhật). Myreview.jp. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  46. ^ “リトルバスターズ! 製品内容” [Little Busters! Product Details] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 
  47. ^ a ă â b c d “Key-Tactics staff information” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2008. 
  48. ^ “Sketches of art by Key staff, with staff position listed” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2007. 
  49. ^ “Shinji Orito's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2007. 
  50. ^ a ă “Rewrite:製品情報 Key Official HomePage” [Rewrite: Product Information Key Official HomePage] (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2010. 
  51. ^ a ă “Tonokawa Yūto's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2007. 
  52. ^ “Spec” (bằng tiếng Nhật). Key. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2010. 
  53. ^ “Jun'ichi Shimizu's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2010. 
  54. ^ “久弥直樹 関わったゲーム一覧 -ErogameScape-エロゲー批評空間-” [Naoki Hisaya Games Done at a Glance - ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  55. ^ “OdiakeS' personal website” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. 
  56. ^ “Takashi Ishikawa's involvement in Key” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. 
  57. ^ “Kai's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  58. ^ “Yūichi Suzumoto's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  59. ^ “Yūichi Suzumoto's official blog entries for January 2006” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  60. ^ “Key's official Planetarian website” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. 
  61. ^ “Tomoyo After staff information” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. 
  62. ^ a ă “Leo Kashida's visual novel contributions” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  63. ^ “ちかのーと Contact me” [Chika Note Contact me] (bằng tiếng Nhật). Shirokiri Chika. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  64. ^ “Magome Togoshi's official blog announcement of his resignation from Key” (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2007. 
  65. ^ a ă â b c Todome Satoshi. “A History of Adult Games, chapter 3”. kyo-kan.net (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2007. 
  66. ^ “A History of Eroge: Chapter Three - "Crying games" hit the standard” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008. 
  67. ^ “Tag: Nakige” (bằng tiếng Anh). The Visual Novel Database. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011. 
  68. ^ “Short Key history” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2007. 
  69. ^ “Girl games come of age” (bằng tiếng Anh). Freetype.net. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |acessdate= (gợi ý |accessdate=) (trợ giúp)
  70. ^ Jones, Matthew T. (tháng 12 năm 2005). “The Impact of Telepresence on Cultural Transmission through Bishoujo Games”. PsychNology Journal 3 (3): 292–311. ISSN 1720-7525. 
  71. ^ Amano Yoshitaka (2008). Ga-netchû! Das Manga-Anime-Syndrom (bằng tiếng Nhật). Berlin: Henschel Verlag. tr. 266. ISBN 978-3-89487-607-4. 
  72. ^ Cavallaro, Dani (2009). Anime and Memory: Aesthetic, Cultural and Thematic Perspectives. McFarland. ISBN 978-0-7864-4112-9. 
  73. ^ Pesimo, Rudyard Contretas (2007). “'Asianizing' Animation in Asia: Digital Content Identity Construction Within the Animation Landscapes of Japan and Thailand”. Reflections on the Human Condition: Change, Conflict and Modernity - The Work of the 2004/2005 API Fellows. The Nippon Foundation. tr. 124–160. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2010. 
  74. ^ a ă Ryukishi07 (9 tháng 7 năm 2004). “Key's Essence is Actually...(Bitter Smile)” (bằng tiếng Nhật). 07th Expansion. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2009. 
  75. ^ a ă â “Lycèe Trading Card Game Visual Art's” (bằng tiếng Nhật). Broccoli. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2011. 
  76. ^ “Lycèe Trading Card Game promotional cards” (bằng tiếng Nhật). Broccoli. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  77. ^ “Lycèe Trading Card Game card sets” (bằng tiếng Nhật). Broccoli. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007. 
  78. ^ a ă “Chronology of the Leaf, Key BBS” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2007. 
  79. ^ a ă â “Leaf, Key BBS” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]