Lực lượng Viễn chinh Anh (Thế chiến thứ nhất)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Những trận đánh tiêu biểu của
Lực lượng Viễn chinh Anh
1914
Trận Mons
Trận Le Cateau
Trận sông Marne lần thứ nhất
Trận sông Aisne lần thứ nhất
Trận La Bassée
Trận Ypres lần thứ nhất
1915
Trận Neuve Chapelle
Trận Ypres lần thứ hai
Trận Festubert
Trận Loos
1916
Trận sông Somme
Trận Fromelles
1917
Trận Arras
Trận Messines
Trận Passchendale
Trận Cambrai lần thứ nhất
1918
Trận sông Somme
Trận sông Lys
Trận sông Aisne lần thứ ba
Trận sông Marne lần thứ hai
Tổng tấn công Một trăm ngày
Trận Amiens
Trận sông Somme lần thứ hai
Trận Ephey
Trận Cambrai lần thứ hai
Trận sông Sambre

Lực lượng Viễn chinh Anh (British Expeditionary Force) hay BEF là một lực lượng được gửi tới Mặt trận phía Tây trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Khởi điểm của kế hoạch thành lập lực lượng viễn chinh Anhcuộc cải cách Haldane của Quân đội Anh do Bộ trưởng Chiến tranh Richard Haldane đề xướng sau cuộc Chiến tranh Boer lần thứ hai (1899–1902).[1]

Thuật ngữ "Lực lượng Viễn chinh Anh" thường chỉ được dùng để chỉ các lực lượng có mặt tại Tây Âu trước khi trận Ypres lần thứ nhất kết thúc vào ngày 22 tháng 11 năm 1914. Cuối năm 1914—sau các trận đánh tại Mons, Le Cateau, Marne, AisneYpresquân đội chính quy cũ của Anh đã bị hủy diệt, dù họ đã ngăn được bước tiến của quân Đức.[2] Một điểm kết thúc khác có thể đặt cho BEF là ngày 26 tháng 12 năm 1914, khi đội quân này được chia làm Tập đoàn quân số 1Tập đoàn quân số 2 (trong giai đoạn sau của cuộc chiến còn có thêm các Tập đoàn quân số 3, 45). B.E.F. vẫn là tên chính thức của Quân đội Anh tại Pháp và Flanders trong suốt Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Tương truyền, Đức hoàng Wilhelm II, người nổi tiếng với thái độ xem nhẹ BEF, đã ban nhật lệnh cho quân đội mình "triệt tiêu...bọn Anh xảo trá và đè bẹp cái đội quân nhỏ bé tầm phào của Tướng French" vào ngày 19 tháng 8 năm 1914. Do đó, trong những năm sau, những người sống sót của quân đội chính quy cũ tự đặt cho mình cái tên là "Những tên tầm phào già" (The Old Contemptibles). Bằng chứng về một mệnh lệnh như vậy do Đức hoàng ban bố chưa hề được tìm ra. Nó có lẽ là tuyên truyền sáng tạo của người Anh, nhưng thường được kẻ đến như một sự thật.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên tr504
  2. ^ Chandler (2003), p.211

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chandler, David (2003). The Oxford History of the British Army. Oxford paperbacks. ISBN 0-19-280311-5. 
  • Chappell, Mike (2003). The British Army in World War I: The Western Front 1914-16. Osprey Publishing. ISBN 1-84176-399-3. 
  • Griffiths, William; Griess, Thomas (2003). The Great War. Square One Publishers. ISBN 0-7570-0158-0. 
  • Jarymowycz, Roman; Starry, Donn (2008). Cavalry from Hoof to Track. Greenwood Publishing Group. tr. 124. ISBN 0-275-98726-4. 
  • Meyer, G.J. (2006). A World Undone: The Story of the Great War, 1914 to 1918. Delacorte Press. ISBN 978-0-553-80354-9. 
  • Pearce, Malcolm; Stewart, Geoffrey (2002). British political history, 1867–2001: democracy and decline. Routledge. ISBN 0-415-26869-9
  • Sheffield, Gary (2003). 'The Somme'. Cassell. ISBN 0-304-36649-8. 
  • Sheffield, Gary; Pelger, Martin (2007). War on the Western Front. Osprey Publishing. ISBN 1-84603-210-5. 
  • Sumner, Ian (2001). The Indian Army 1914-1947. Osprey Publishing. ISBN 1-84176-196-6. 
  • Tucker, Spencer; Roberts (2005). World War I: encyclopedia. ABC-CLIO. ISBN 1-85109-420-2.  Đã bỏ qua tham số không rõ |irst2= (trợ giúp)
  • Yockelson, Mitchell A. (30 tháng 5 năm 2008). Borrowed Soldiers: Americans under British Command, 1918. Foreword by John S. D. Eisenhower. University of Oklahoma Press. ISBN 978-0-8061-3919-7.