Lance Armstrong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lance Armstrong
Armstrong in 2003speaking at the National Institutes of Health in Bethesda, Maryland.
Armstrong in 2003
speaking at the National Institutes of Health in Bethesda, Maryland.
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Lance Edward Armstrong
Biệt danh The Boss, Juan Pelota, The Texan,[1] Mellow Johnny
(from Maillot Jaune, French for Yellow jersey)[2]
Ngày sinh 18 tháng 9, 1971 (40 tuổi)
Quốc gia Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Cao 1,77 m (5 ft 9 12 in)

[3]

Nặng 1993: 79 kg (174 lb)
1999: 74 kg (163 lb)
2009: 75 kg (165 lb)[3]
Thông tin đội đua
Đội hiện tại Bản mẫu:Cycling data RadioShack
Loại hình Road
Vị trí Rider
Sở trường All-Rounder
Nghiệp dư
1990–1991
1991
Bản mẫu:Cycling data DSC
US National Team
Chuyên nghiệp
1992–1996
1997
1998–2004
2005
2009
2010-
Motorola
Bản mẫu:Cycling data COF
Bản mẫu:Cycling data USP
Bản mẫu:Cycling data USP
Bản mẫu:Cycling data AST
Bản mẫu:Cycling data RadioShack
Thành tích chính
Tour de France Jersey yellow.svg Overall
(1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005) 22 stages

World Cycling Champion MaillotMundial.PNG (1993)
US National Cycling Champion MaillotUSA.PNG (1993)
Clásica de San Sebastián (1995)
La Flèche Wallonne (1996)
Tour de Suisse (2001)
Critérium du Dauphiné Libéré (2002, 2003)

Cập nhật lần cuối:
{{{updated}}}

Lance Edward Armstrong (khai sinh Lance Edward Gunderson ngày 18 tháng 9, 1971) là từng một vận động viên đua xe đạp chuyên nghiệp nổi tiếng đã phá kỷ lục giải Tour de France khi giành chiến thắng bảy lần liên tục sau khi vượt qua bệnh ung thư tinh hoàn. Ông cũng là nhà sáng lập và chủ tịch của Tổ chức Lance Armstrong, một tổ chức nghiên cứu và hổ trợ cho bệnh nhân ung thư. Ông tham gia lần cuối (và giúp thành lập) UCI ProTeam Team RadioShack.

Tháng 10, 1996, ông được chẩn đoán là mắc ung thư tinh hoàn với một khối u đã di căn tới não và phổi và tiên lượng bệnh ban đầu xấu. Quá trình điều trị ung thư của ông bao gồm giải phẫu não và tinh hoàn, hóa trị kéo dài. Ông thi đấu và giành chiến thắng từng năm từ 1999 đến 2005 và là người duy nhất chiến thắng bảy lần phá vỡ kỷ lục trước đó là giành chiến thắng năm lần từng đạt bởi Miguel Indurain, Bernard Hinault, Eddy Merckx, và Jacques Anquetil.

Năm 1999, ông được ABC Wide World of Sports gán danh hiệu là Vận động viên của năm. [4] Năm 2000, ông giành Giải thưởng Hoàng tử xứ Asturias cho lĩnh vực thể thao. Năm 2002, tạp chí Sports Illustrated gọi ông là Nhà thể thao của năm. Ông cũng từng giành được danh hiệu Nam vận động viên của năm của Associated Press (Associated Press Male Athlete of the Year) cho các năm 2002 đến 2005. Ông nhận giải thưởng ESPY của ESPN cho Vận động viên xuất sắc nhất các năm từ 2003 đến 2006 và giành danh hiệu giải thường Nhân vật thể thao nước ngoài của BBC (BBC Sports Personality of the Year Overseas Personality) năm 2003. Armstrong tuyên bố giải nghệ ngày 24 tháng 7, 2005 khi Tour de France 2005 kết thúc nhưng trở lại thi đấu vào tháng 1, 2009 và về thứ 3 trong giải Tour de France 2009. Ông khẳng định giải nghệ đua xe đạp ngày 16 tháng 2, 2011. [5]

[sửa] Liên kết ngoài

  1. ^ Gayle King Radio Show, Fed Ex http://www.oprah.com/media/20080601_oaf_20080619_oaf_gk
  2. ^ Lance Armstrong, Sally Jenkins: Every Second Counts, Chapter 1, (ISBN 0-385-50871-9), Broadway Books 2003.
  3. ^ a b TDF (2009). Astana - Lance Armstrong. Truy cập 2009-07-04 from http://www.letour.fr/2009/TDF/RIDERS/us/coureurs/22.html.
  4. ^ “Lance Armstrong”. Truy cập 15 tháng 9 năm 2008.
  5. ^ “Lance Armstrong confirms retirement from cycling”, BBC News website, 16 tháng 2 năm 2011. Truy cập 2011=02-16.

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác