Mã Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Mã Minh (zh. 馬鳴, sa. aśvaghosha) hay A-na Bồ-đề (zh. 阿那菩提, sa. Ānabodhi) là nhà thơ, nhà vănluận sư Phật giáo Đại thừa người Ấn Độ, sống giữa thế kỉ 12, được xem là một trong những luận sư quan trọng nhất của Phật giáo. Và là tổ thứ 12 của Thiền tông Ấn Độ.

Cuộc Đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tiên, Mã Minh theo đạo Bà-la-môn và được tổ thứ 10 của Thiền tông Ấn Độ là Bà-lật-thấp-bà (sa. pārśva) đưa vào đạo Phật. Tác phẩm quan trọng nhất của sư là bộ Hi khúc Xá-lợi tử, Phật sở hạnh tán, bộ Tôn-già-lợi Nan-đà. Sư cũng được xem là tác giả của bộ Đại thừa khởi tín luận. Tác phẩm nổi tiếng nhất của sư là quyển Phật sở hạnh tán (Cuộc đời Đức Phật) thi phẩm nổi tiếng về kể cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, được viết bằng thơ Sanskrit. Với thiên tài thi ca Sanskrit vô tiền khoáng hậu,[1] Mã Minh đã góp phần đưa văn học Sanskrit Phật giáo đến đỉnh cao văn chương và triết lý. Và đây cũng là một trong những kiệt tác của văn học phương Đông.

Các tác phẩm của Sư đọc rất dễ hiểu và có nhiều ẩn dụ. Thí dụ như chuyện Tôn-già-lợi Nan-đà “chàng trai tuấn tú Nan-đà” người tuy đã vào chùa đi tu nhưng vẫn còn thương yêu người vợ. Chỉ sau nhiều lần giảng dạy của Phật, chàng mới hết nghiệp yêu thương và sống viễn li. Mã Minh được xem là một trong bốn vị minh triết Phật giáo, được xếp vào “bốn mặt trời chiếu rọi thế giới”. Ba vị kia là Thánh Thiên, Long ThụCưu-ma-la-đa (sa. kumāralāta), một Đại sư của Kinh lượng bộ.

Tác phẩm còn lưu lại[sửa | sửa mã nguồn]

Các tác phẩm được liệt kê dưới tên Mã Minh:

  1. Đại thừa khởi tín luận (sa. mahāyānaśraddhotpāda-śāstra);
  2. Phật sở hạnh tán (sa. buddhacarita-kāvya);
  3. Đại tông địa huyền văn bản luận (sa. mahāyānabhūmiguhyavācāmūla-śāstra);
  4. Đại trang nghiêm kinh luận (sa. mahālaṅkāra-sūtra-śāstra);
  5. Ni-kiền tử vấn vô ngã nghĩa kinh;
  6. Thập bất thiện nghiệp đạo kinh (sa. daśaduṣṭakarmamārga-sūtra);
  7. Sự sư pháp ngũ thập tụng;
  8. Lục đạo luân hồi kinh;
  9. Hi khúc Xá-lợi tử (sa. śāriputraprakaraṇa);
  10. Tôn-già-lợi Nan-đà (sa. saundarananda-kāvya).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trích dẫn theo Đại Trang Nghiêm Kinh Luận  của sư Mã Minh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán