Mướp hương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mướp hương
Luffa aegyptiaca Blanco2.334-cropped.jpg
Mướp hương
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
Ngành (divisio) Magnoliophyta
Lớp (class) Magnoliopsida
Bộ (ordo) Cucurbitales
Họ (familia) Cucurbitaceae
Chi (genus) Luffa
Loài (species) L. aegyptiaca
Danh pháp hai phần
Luffa aegyptiaca
Mill.
Danh pháp đồng nghĩa

Luffa aegyptica (lapsus)

Luffa cylindrica (L.) Roem.

Mướp hương hay mướp ta, mướp gối, có tên khoa học là Luffa aegyptiaca hay Luffa cylindrica (tên cũ), là một loài thuộc chi Mướp (Luffa), tên tiếng AnhSmooth Luffa hay Egyptian Luffa. Đây là loài cây bản địa của Bắc Phi.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Quả mướp hương trên giàn

Mướp là một loại cây thảo dạng dây leo. mọc so le, dạng tim, có 5-7 thùy có răng. Hoa đơn tính, các hoa đực tập hợp thành chùm dạng chùy, các hoa cái mọc đơn độc. Quả dài 25-30cm hay hơn, rộng 6–8 cm, hình trụ thuôn, khi già thì khô, bên trong có nhiều xơ dai.[1]

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Quả chứa chất đắng, saponin, chất nhầy, xylan, mannan, galactan, lignin, mỡ, protein 1,5%. Trong quả tươi có nhiều choline, phytin, các acid amin tự do: lysin, arginin, acid aspartic, glycin, threonin, acid glutamic, alanin, tryptophan, phenylalanin và leucin. Hạt chứa một chất đắng là cucurbitacin B, một saponin đắng kết tinh khi thuỷ phân cho acid oleonolic và một sapogenin trung tính; còn có một saponin khác[1].

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Cây mướp hương được trồng để lấy quả xanh và được dùng như một loại rau, hoặc được trồng làm cảnh. Xơ từ quả chín được dùng làm vật cọ rửa. Mướp hương cũng được sử dụng trong đông y.

Sử dụng trong đông y[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phận dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Xơ mướp (retinervus Luffae Fructus), thường gọi là Ty qua lạc, Quả tươi (Fructus Luffae), thường gọi là Sinh ty qua. Lá, dây, rễ, hạt cũng được dùng[1].

Tính vị, tác dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tính vị[1]

  • Xơ Mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết thông lạc, lợi niệu tiêu thũng.
  • Lá Mướp có vị đắng, chua, hơi hàn; có tác dụng chỉ huyết, thanh nhiệt giải độc, hoá đàm chỉ khái.
  • Hạt Mướp có vị hơi ngọt, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, nhuận táo, sát trùng.
  • Dây Mướp có vị ngọt, tính bình; có tác dụng thông kinh hoạt lạc, chỉ khái hoá đàm.
  • Rễ Mướp có vị ngọt, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt giải độc.
  • Quả Mướp có vị ngọt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, lương huyết giải độc.

Công dụng[1]

  • Quả Mướp thường dùng ăn chữa được chứng đậu sởi, khỏi lở sưng đau nhức, lại kích thích sự tiết sữa ở các bà mẹ đang nuôi con và tăng cường sự tuần hoàn.
  • Xơ Mướp thường dùng trị gân cốt đau nhức, đau mình mẩy ngực sườn, bế kinh, sữa chảy không thông, viêm tuyến sữa, thuỷ thũng.
  • Lá dùng trị ho gà, ho, nắng nóng miệng khát; dùng ngoài trị vết thương chảy máu ghẻ lở, bệnh mụn.
  • Hạt dùng trị ho nhiều đờm, giun đũa, đái khó.
  • Dây Mướp dùng trị đau lưng, ho, viêm mũi, viêm nhánh khí quản.
  • Rễ dùng trị viêm mũi, viêm các xoang phụ của mũi.

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]