Moissanit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Moissanit
Thông tin chung
Thể loại Khoáng vật
Công thức hóa học SiC
Màu trong suốt, lục, vàng
Dạng thường tinh thể thường được tìm thấy bên trong các khoáng vật khác
Hệ tinh thể phổ biến nhất: sáu phương 6H (6mm), nhóm không gian: P 63mc
Cát khai không rõ theo trục (0001)
Vết vỡ vỏ sò - vết nứt phát triển trong các khoáng vật giòn đặc trưng bởi các bề mặt cong nhẵn, (như thạch anh)
Độ cứng Mohs 9,5
Ánh kim loại
Màu vết vạch xám lục
Tính trong mờ trong suốt
Tỷ trọng riêng 3,218 - 3,22
Chiết suất nω=2,654 nε=2,967,
Khúc xạ kép 0,313 (dạng 6H)
Huỳnh quang lục hoặc vàng
Điểm nóng chảy 2730 °C (phân hủy)
Độ hòa tan không
Các đặc điểm khác không phóng xạ, không từ tính
Tham chiếu [1]

Moissanit (SiC) là khoáng vật so với kim cương thiên nhiên có độ cứng (9,5), tỷ trọng xấp xỉ (3,21) và chiết suất cũng xấp xỉ (2,65-2,69). Đặc biệt, độ dẫn nhiệt hoàn tương tự kim cương, vì vậy dùng bút thử kim cương trên cơ sở độ dẫn nhiệt thì hoàn toàn vô tác dụng. Moissanit được chế tác với nhiều kích thước khác nhau và là sự đánh đố trong thương trường mua bán kim cương hiện nay.

Thông tin chung[sửa | sửa mã nguồn]

Moissanite đã được Henri Moissan phát hiện khi ông kiểm tra các mẫu đá từ một miệng thiên thạch ở Canyon Diablo, Arizona năm 1893. Lúc đầu ông xác định nhầm đó là kim cương nhưng năm 1904 thì ông đã xác định tinh thể này là một loại khoáng chất mới và gọi tên nó là cácbit xilic (SiC).[2][3] Khoáng vật này sau này đã được đặt tên moissanite để tưởng nhớ Moissan.[4] Cho đến thập niên 1950, không có nguồn nào khác ngoài các thiên thạch là nơi tìm thấy loại khoáng chất này. Sau này người ta đã phát hiện loại đá này ở dạng kimberlit trong một mỏ kim cương tại Yakutia vào năm 1959, và tại Green River Formation tại Wyoming vào năm 1958.[5] Việc phát hiện ra khoáng vật này trong một thiên thạchCanyon Diablo và những nơi khác đã không được thừa nhận trong một thời gian dài là một chất bị nhiễm carborundum từ các công cụ mài mòn của con người. Thậm chí nhà địa chất học người Mỹ Charles Milton vào năm 1986 còn nghi vấn về sự hiện diện của moissanit trong tự nhiên.[6]

Trên thị trường[sửa | sửa mã nguồn]

Một nhẫn trang sức có đính đá Moissanit đã được tinh chế và mài dũa

Do sự hiếm có của moissanite trong tự nhiên nên nó không được sử dụng rộng rãi trong thương mại. Nhưng silicon carbide được sản xuất nhân tạo với số lượng lớn siliccarbon, như một chất Carborund, được sử dụng trong khâu mài mòn những vật khác, nhưng cũng được sử dụng như một chất cách điện bằng gốm và do tính chất bán dẫn của nó, còn được dùng cho diode phát ánh sáng, bóng bán dẫn và điện trở (Varistor).

Tinh thể Moissanite với độ tinh khiết cao có thể được sử dụng trong ngành công nghiệp hàng trang sức, như là "kim cương giả" (tương tự như đá Zirconia). Moissanite có độ cứng thấp hơn so với kim cương, nhưng chịu nhiệt trong không khí ổn định lại tốt hơn (lên đến 1127 °C, kim cương chỉ ở 837 °C) và chi phí sản xuất rẻ hơn đáng kể [7].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Moissanite”. Webmineral. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010. 
  2. ^ Xu J. and Mao H. (2000). “Moissanite: A window for high-pressure experiments”. Science 290: 783–787. doi:10.1126/science.290.5492.783. 
  3. ^ Henri Moissan (1904). “Nouvelles recherches sur la météorité de Cañon Diablo”. Comptes rendus 139: 773–786. 
  4. ^ Di Pierro S., Gnos E., Grobety B.H., Armbruster T., Bernasconi S.M., and Ulmer P. (2003). “Rock-forming moissanite (natural α-silicon carbide)”. American Mineralogist 88: 1817–1821. 
  5. ^ J. Bauer J. Fiala, R. Hřichová (1963). “Natural α–Silicone Carbide”. American Mineralogist 48: 620–634. 
  6. ^ H. E. Belkin, E. J. Dwornik (1994). “Memorial of Charles Milton April 25 1896 – October 1990”. American Mineralogist 79: 190–192. 
  7. ^ Eckhard Amelingmeier: Moissanit. In: Römpp Chemie Lexikon, Thieme Verlag, Stand Dezember 2006.