Nguyễn Biểu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Biểu (chữ Hán: 阮表, ?- 1413) là tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam, quê ở quê làng Bình Hồ, huyện La Sơn, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Yên Hồ, Đức Thọ, Hà Tĩnh).

Cuộc đời sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Biểu (?- 1413) là tướng nhà Hậu Trần, quê ở quê làng Bình Hồ, huyện La Sơn, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Yên Hồ, Đức Thọ, Hà Tĩnh).

Ông đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) cuối thời Trần, làm quan đến chức Điện Tiền Thái sử (Ngự Sử). Khi quân nhà Minh xâm lược Đại Ngu, ông đã phò vua Trần Trùng Quang Đế (1409-1413) tổ chức cuộc kháng chiến.

Năm 1413, quân Minh đánh vào Nghệ An, vua Trùng Quang Đế chạy vào Hóa Châu, sai ông đi sứ giảng hoà, gặp Trương Phụ xin cầu phong, cốt thực hiện kế hoãn binh, kéo dài thời gian để cho Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị xây dựng binh lực. Tướng Minh Trương Phụ tiếp sứ thần rất khinh bạc, ngạo mạn, sai quân dọn ra một mâm cỗ chỉ có một cái đầu người luộc chín, ép Nguyễn Biểu ăn, cốt để thị oai.

Nguyễn Biểu ung dung ngồi vào mâm, nói rằng: "Mấy thuở được ăn thịt người phương Bắc (người Tàu)!", nói đoạn, lấy đũa khoét đôi mắt, chấm muối ăn. Vừa ăn, vừa ngâm bài thơ Cỗ đầu người khiến Trương Phụ cũng phải kính phục, toan tha cho ông về. 

Hàng tướng là Phan Liêu lúc ấy ton hót với Phụ rằng Nguyễn Biểu nói: "Năng sảm nhân đầu, năng sảm Phụ"(có khả năng nuốt được cỗ đầu người, tất cũng có khả năng nuốt tươi được Trương Phụ). Trương Phụ giận lắm, đưa câu ấy ra bắt ông phải đối lại. Đối được mới cho về, không đối được thì chém. Nguyễn Biểu ung dung đối lại rằng: "Hựu tồn ngô thiệt, hựu tồn Trần" (còn ba tấc lưỡi của ta, nhà Trần vẫn còn!). Trương Phụ giận lắm, đổi ý không tha nữa, lại sai cắt lưỡi của ông: 

-Thử xem cắt lưỡi nó đi, nhà Trần có còn được nữa hay không ??? 

Kế đó, Phụ sai trói ông vào chân cầu, để cho nước thủy triều lên cao dìm chết. Tương truyền ở dưới chân cầu ông dùng móng tay vạch vào thân cầu tám chữ: "Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử" (Nguyễn Biểu tử tiết ngày 11 tháng 7).

Nhân dân miền Nghệ An - Hà Tĩnh lập miếu thờ, suy tôn ông là Nghĩa vương. Các triều đại sau cũng đều truy phong ông làm Phúc thần. Hiện nay tại xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ có đền thờ Nguyễn Biểu được xây dựng vào thời nhà Lê để tưởng nhớ công lao của ông.

Từ năm 1941, tác giả Hoàng Xuân Hãn đã công bố trong Khai trí tiến đức, tập san số 2 và 3, mấy bài thơ Nôm đời Hậu-Trần được gom trong Nghĩa sĩ truyện: một bài của vua Trùng Quang (1409-1413) tặng Nguyễn Biểu khi lĩnh mạng đi sứ, bài họa lại và sau đó là bài thơ bữa tiệc "đầu người" của Nguyễn Biểu khi bị giặc làm áp lực, bài tế Nguyễn Biểu của vua Trùng Quang và bài tụng chí khí của Nguyễn Biểu do sư chùa Yên Quốc làm ra.

Vua Trần Trùng Quang làm bài thơ Tiễn Nguyễn Biểu Đi Sứ

Mấy vần thơ cũ ngợi hoàng hoa
Trịnh trọng rầy nhân dựng khúc ca
Chiếu phượng mười hàng tơ cản kẽ
Vó câu ngàn dặm tuyết xông pha
Tang bồng đã bấm lòng khi trẻ
Khương quế thêm cay tính tuổi già
Việc nước một mai công ngõ vẹn
Gác lân danh tiếng dọi lầu xa

Bài họa Của Nguyễn Biểu:

Tiếng ngọc từ vâng trước bệ hoa
Ngóng tai đồng vọng thuở thi ca
Đường mây vó ký lần lần trải
Ải tuyết cờ mao thức thức pha
Há một cung tên lồng chí trẻ
Bội mười vàng sắt đúc gan già
Hổ mình vả thiếu tài chuyên đối
Dịch lội ba ngàn dám ngại xa

Cỗ Đầu Người

Ngọc thiện trân tu đã đủ mùi
Gia hào thêm có cỗ đầu người
Nem cuông chả phượng còn thua béo
Thịt gụ gan lân cũng kém tươi
Ca lối lộc minh so cũng một
Đọ bề vàng sắt bội hơn mười
Kia kìa ngon ngọt tày vai lợn
Tráng sĩ như Phàn tiếng để đời
Chú thích:

Ngọc thiện: thức ăn sang quý.

Trân tu: món nem quý

Gia hào: thức ăn ngon dùng nhắm rươu.

Nem cuông: nem công ("cuông" là thổ âm Nghệ Tĩnh phát âm lệch chữ "công")

Chả phương: chả làm bằng thịt chim phượng (phép ngoa dụ)

Gụ: con gấu (Thổ âm vùng Nghệ Tĩnh)

Gan lân: Gan con kì lân (phép ngoa dụ).

"Ca lối lộc minh so cũng một

Đọ bề vàng sắt bội hơn mười"

Nguyễn Biểu đã dùng điển tích trong bài Lộc minh của Kinh Thi. Đây là bài thơ đầu tiên ở phần Tiểu nhã; bài thơ này ca ngợi mối quan hệ gần gũi giữa vua và tôi.

(Kinh Thi gồm 311 bài, chia làm 8 quyển, Lộc minh là bài số 1 trong 10 bài của "Lộc minh chi thập", phần Tiểu nhã, quyển IV)

Tiểu nhã là nhạc dùng ở yến tiệc, phần nhiều do Chu Công Đán chế tác. Bài lộc minh có 3 chương, 24 câu.

Ở nước ta, ngày yết bảng thi Hương, các ông Cử  được ban mũ áo, hôm sau đãi yến, thường gọi là yến "Lộc minh", là yến vua ban cho.. Yến cũng giống như cỗ thường, có thêm bánh bằng bột mầu sặc sỡ, Cũng có khi cầu kỳ: trên mặt bát nấu bầy hình long, lân, quy, phụng cắt bằng giấy trang kim.

Câu thơ có thể hiểu: Cỗ đầu người so với lộc minh cũng chỉ như đọ với vàng sắt mà thôi, Cỗ đầu người này xem ra hơn cả "lộc minh" mười phần.

- Kia kìa ngon ngọt tày vai lợn

Tráng sĩ như Phàn tiếng để đời

Miếng ăn ngon ngọt như thịt vai con lợn

Ăn một miếng để đời sau được cái tiếng như Phàn tráng sĩ.

(Phàn tráng sĩ là Phàn Khoái, dũng tướng của của vua Hán Cao Tổ. Lúc trẻ ông bán thịt chó ở chợ, sau theo phò Hán Cao Tổ, đánh nhau với Tần, lập được nhiều chiến công lớn. Khi vua Hán hội ẩm với Hạng Vũ ở Hồng Môn, quân sư của Vũ là Phạm Tăng xúi Vũ nên giết vua Hán để tránh hậu họa. Trương Lương là tham mưu của Hán Cao Tổ biết ý Phạm Tăng bàn với Phàn Khoái tìm cách bảo vệ vua. Khoái cầm kiếm đi vào nơi hội ẩm, trừng mắt nhìn Hạng Vũ, làm cho Vũ có ý sợ và kính phục. Hạng Vũ khen Phàn Khoái là tráng sĩ, sai đem tặng cho một đấu rượu và một vai lợn sống.)

Tưởng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ sau đó năm năm thôi, vào năm Mậu Tuất (1418) cả nước Nam này đã vùng dậy chiến đấu trong mười năm trời, đánh tan đội quân xâm lược của nhà Minh, lật đổ toàn bộ ách thống trị của chúng mà chính bản thân Trương Phụ đã góp phần đặt lên đầu cả dân tộc nhỏ bé ở Phương nam này. Lúc bấy giờ Nguyễn Biểu không còn nữa, nhưng khí phách anh hùng và tinh thần xả thân vì nước của ông được cả dân tộc kế tục để làm tròn sự nghiệp giữ nước mà Nguyễn Biểu còn bỏ dở.

Nhân dân miền Nghệ An - Hà Tĩnh lập miếu thờ, suy tôn ông là Nghĩa vương. Các triều đại sau cũng đều truy phong ông làm Phúc thần. Hiện nay tại xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ có đền thờ Nguyễn Biểu được xây dựng vào thời nhà Lê để tưởng nhớ công lao của ông.

Từ năm 1941, tác giả Hoàng Xuân Hãn đã công bố trong Khai trí tiến đức, tập san số 2 và 3, mấy bài thơ Nôm đời Hậu-Trần được gom trong Nghĩa sĩ truyện: một bài của vua Trùng Quang (1409-1413) tặng Nguyễn Biểu khi lĩnh mạng đi sứ, bài họa lại và sau đó là bài thơ bữa tiệc "đầu người" của Nguyễn Biểu khi bị giặc làm áp lực, bài tế Nguyễn Biểu của vua Trùng Quang và bài tụng chí khí của Nguyễn Biểu do sư chùa Yên Quốc làm ra.

Cùng với núi Thành Sơn, với dòng sông Lam, Nguyễn Biểu còn mãi mãi được các thế hệ mai sau ngợi ca cùng câu đối ghi ở đền Nghĩa Liệt:

"Tồn Trần kính tiết Thành sơn thạch .Mạ tặc dư thanh Lam thủy ba".

(Tiết cứng phò Trần đá Nghĩa Liệt .Tiếng vang mắng giặc sóng Lam Giang).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]