Đức Thọ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông La, đoạn qua thị trấn Đức Thọ

Huyện Đức Thọ là một huyện trung du đồng bằng Sông La và hữu ngạn Sông Lam phía bắc của tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Phía đông nam huyện giáp huyện Can Lộc, phía bắc tây giáp huyện Nam Đàn, phía đông bắc giáp huyện Hưng Nguyên (tỉnh Nghệ An), phía tây giáp huyện Hương Sơn, phía tây nam giáp huyện Vũ Quang, huyện Hương Khê, phía đông giáp thị xã Hồng Lĩnh. Huyện cách thủ đô Hà Nội 325 km về phía nam.

Tọa độ địa lý: 18,180-18,350 độ vĩ Bắc, 105,380-105,450 độ kinh Đông.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Đức Thọ hiện nay có 1 thị trấn và các xã: Đức Vịnh, Đức Quang, Đức Châu, Đức Tùng, Yên Hồ, Tùng Ảnh, Đức Lạng, Đức Đồng, Tân Hương,Đức Nhân, Đức Thủy, Thái Yên, Đức Thanh, Trung Lễ, Đức Lâm, Đức Dũng, Đức An, Đức Lập, Đức Lạng, Đức Lạc, Đức Long, Đức Hòa, Bùi Xá, Đức Yên, Trường Sơn, Liên Minh, Đức Thịnh, Đức La.

  • Diện tích: 20.904 ha;
  • Dân số: 125.260 người;

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Quốc lộ 8, đoạn qua Đức Thọ, Hà Tĩnh.JPG
Quốc lộ 8, đoạn qua thị trấn Đức Thọ

Trải qua các giai đoạn lịch sử Đức thọ đã có nhiều tên gọi khác nhau:

  • Thời Hùng Vương, Đức Thọ thuộc bộ Cửu Đức trong tổng số 15 bộ của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc.
  • Thời các triều đại phong kiến Phương Bắc: Nhà Tần (246-207 TCN), nhà Hán (206TCN – 220 SCN) đô hộ, Đức Thọ nằm trong địa phận huyện Hàm Hoan (bao gồm toàn bộ vùng đất Nghệ Tĩnh) thuộc huyện Cửu Chân.
  • Thời nhà Đường 629 (Đường Cao Tổ) đô hộ đến thời nhà Lý, Đức thọ có tên là Cổ La thuộc Hoan Châu.
  • Thời nhà Ngô thế kỷ thứ X vùng đất Đức Thọ nằm trong huyện Cửu Đức.
  • Thời Nhà Lý và nhà Trần, Đức Thọ có tên là Chi La thuộc phủ Đức Quang, Nghệ An châu.
  • Thời Lê sơ, Đức Thọ có tên là La Giang (1428) thuộc phủ Đức Quang, xứ Nghệ An.
  • Thời Lê Trung Hưng (1729 - 1740) để tránh trùng với tên huý của chúa Trịnh Giang nên đổi La Giang thành La Sơn thuộc phủ Đức Quang, trấn Nghệ An.
  • Thời Minh Mạng (1822) vì trùng tên huý nên phủ Đức Quang đổi tên thành phủ Đức Thọ. Tên La Sơn (thuộc phủ Đức Thọ) tồn tại đến đầu thế kỷ XX phủ Đức Thọ kiêm nhiếp.
  • Năm Duy Tân thứ 9 (1915), tách tổng Đồng Công nhập về Đức Thọ. Tổng Đồng Công khi đó gồm các xã: Đức Hoà, Đức Lạc, Ân Phú.
  • Năm Khải Định thứ 6 (1921), tách tổng Lai Thạch thuộc Đức Thọ chuyển về huyện Can Lộc.
  • Sau 1945, huyện La Sơn đổi thành huyện Đức Thọ cho đến ngày nay.
  • Năm 1946 - 1947 nhập các làng Lâm Thao, Hòa Duyệt nguyên thuộc tổng Hương Khê và các làng Thượng Bồng, Hạ Bồng, Phương Duệ, Yên Duệ nguyên thuộc tổng Thượng Bồng, Phương Duệ, Yên Duệ nguyên thuộc tổng Thượng Bồng và các xã Ân Phú nguyên thuộc tổng Dị Ốc huyện Hương Sơn chuyển sang thành thôn 7 thuộc xã Đồng Công (xã Đồng Công bao gồm 3 xã Ân Phú, Đức Hoà, Đức Lạc ngày nay). Tiếp đến, vào năm 1948 lại nhập các xã, xã Ân Phú đổi tên thành xã Đức Ân, năm 1972 lại đổi trở lại Ân Phú.
  • Từ năm 1976-1991, huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh.
  • Từ năm 1991, huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Đến thời điểm này, huyện Đức Thọ có 2 thị trấn: Đức Thọ (huyện lị), Hồng Lĩnh và 36 xã: Đức Vịnh, Đức Quang, Đức Châu, Đức Tùng, Yên Hồ, Tùng Ảnh, Đức Lạng, Đức Đồng, Tân Hương, Đức Nhân, Đức Thủy, Thái Yên, Đức Thanh, Trung Lễ, Đức Lâm, Đức Dũng, Đức An, Đức Lập, Đức Lạng, Đức Lạc, Đức Long, Đức Hòa, Bùi Xá, Đức Yên, Trường Sơn, Liên Minh, Đức Thịnh, Đức La, Đức Liên, Đức Hương, Đức Bồng, Đức Lĩnh, Đức Giang, Ân Phú, Trung Lương, Đức Thuận.
  • Ngày 2/3/1992, thị trấn Hồng Lĩnh, xã Trung Lương, xã Đức Thuận và một phần xã Đức Thịnh thuộc Đức Thọ chuyển sang trực thuộc thị xã Hồng Lĩnh. Sau khi thành lập thị xã Hồng Lĩnh, huyện Đức Thọ có 1 thị trấn Đức Thọ và 34 xã: Đức Vịnh, Đức Quang, Đức Châu, Đức Tùng, Yên Hồ, Tùng Ảnh, Đức Lạng, Đức Đồng, Tân Hương, Đức Nhân, Đức Thủy, Thái Yên, Đức Thanh, Trung Lễ, Đức Lâm, Đức Dũng, Đức An, Đức Lập, Đức Lạng, Đức Lạc, Đức Long, Đức Hòa, Bùi Xá, Đức Yên, Trường Sơn, Liên Minh, Đức Thịnh, Đức La, Đức Liên, Đức Hương, Đức Bồng, Đức Lĩnh, Đức Giang, Ân Phú
  • Năm 2000, 6 xã: Đức Liên, Đức Hương, Đức Bồng, Đức Lĩnh, Đức Giang, Ân Phú chuyển sang trực thuộc huyện Vũ Quang.

Truyền thống văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đức Thọ xưa kia có tên gọi là La Sơn thuộc phủ Đức Quang (gồm cả Hương Sơn, Thiên Lộc, Nghi Xuân, Thanh Chương, Nghi Lộc...) được xem là vùng "địa linh nhân kiệt" của xứ Nghệ. Trong thời kỳ phong kiến, Đức Thọ có 39 vị đại khoa (Tiến sĩ) với những dòng họ nổi tiếng khoa bảng như: Lê Văn, Hoàng Xuân, Phan Đình, Hà Học,... và các làng giàu truyền thống văn hoá như: Yên Hồ, Đông Thái, Trung Lễ, Bùi Xá... thoi phong kien ha tinh co 4 vi trang nguyen thi duc tho có 2 vi do la dao tieu va doan nguyen loi deu que o yen ho Nhiều người thành đạt xuất thân từ Đức Thọ, như nhà ngoại giao Nguyễn Biểu (đời Trần), nhà văn hóa Bùi Dương Lịch; Hoàng giáp Bùi Thức Kiên; Thượng thư, Tiến sĩ Phan Bá Đạt; lãnh đạo phong trào Cần Vương, Đình nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng, các chí sĩ Lê Văn Huân, Lê Thước, Lê Ninh, nhà cách mạng Trần Phú, nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn, Luật sư Phan Anh, Luật sư Phan Mỹ, nhà toán học Lê Văn Thiêm, nhà văn Hoàng Ngọc Phách, Bác sĩ Phạm Văn Huyến; nhà thơ Thái Can, Luật sư Phạm Khắc Hòe

Ngoài ra, còn có một nhân vật lịch sử khác cũng rất nổi tiếng nữa là Hoàng Cao Khải. Ông bị xem khinh vì đã cam tâm phục vụ hết lòng thực dân Pháp xâm lược, nhưng chính người Pháp từng nghi ngờ ông là một trợ lực ngầm cho phong trào Duy tân và Đông du, và ngay Phan Châu Trinh cũng có liên lạc thư từ với ông.

Trong số những người nổi tiếng hiện nay, từ huyện Đức Thọ có: Giáo sư, TSKH, Viện sĩ Vật lý Đào Vọng Đức; Nữ luật sư Ngô Bá Thành; Giáo sư văn học Hoàng Xuân Nhị; Giáo sư văn học, nhà giáo nhân dân Nguyễn Kim Đính; Giáo sư- nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến; Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Trần Vĩnh Diệu (anh hùng lao động); Giáo sư, nhà sinh học Võ Quý; Giáo sư vật lý Trần Đức Thiệp; Giáo sư lâm nghiệp Lê Đình Khả; Giáo sư toán học Đinh Văn Huỳnh (Đại học Ohio, Ohio, Hoa Kỳ); nhà văn hóa Hà Xuân Trường; Giáo sư- nhà Đông Nam Á học Phạm Đức Dương; Giáo sư Phan Văn Tiệm, nguyên Ủy viên tw Đảng, nguyên Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban vật giá chính phủ; Võ Hồng Phúc (Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư); Giáo sư Hà Học Trạc, (Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam; Đạo diễn sân khấu Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Thị Thành, Nhà báo Phạm Khắc Lãm (nguyên Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam); Nguyễn Minh Quang-Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;luật sư Trịnh Hồng Dương (nguyên Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam); Trung tướng Võ Trọng Việt- Chính ủy Bộ đội Biên phòng Việt Nam; Giáo sư, bác sĩ, Anh hùng Lao động Trần Quỵ (nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai); Giáo sư Mai Trọng Nhuận (nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội); Giáo sư, Tiến sĩ, Nghệ sĩ nhân dân, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động Trần Bạch Thu Hà (nguyên Giám đốc Nhạc viện Hà Nội), nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục- ĐHQG Hà Nội); Nhà nhiếp ảnh Phan Thoan (tác giả bức ảnh O du kích nhỏ), Giáo sư Phan Nguyên Hồng, và hiện tại có gia đình có hai anh con trai tốt nghiệp tiến sĩ ở trường Harvard và MIT (một trong các đại học danh giá nhất trên thế giới) và hiện đều làm giáo sư ở Mỹ... và rất nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa, chính khách và doanh nhân nổi tiếng khác.

Di tích và danh thắng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đền thờ Nguyễn Biểu: Di tích thuộc xã Yên Hồ, đền được xây dựng vào thời nhà Lê để tưởng nhớ công lao của Nguyễn Biểu.
  • Mộ Phan Đình Phùng tại xã Tùng Ảnh.
  • Nhà thờ Phan Đình Phùng tại xã Tùng Ảnh: Di tích LSVH quốc gia (2007).
  • Khu lưu niệm Trần Phú ở xã Tùng Ảnh: Khu lưu niệm danh nhân lịch sử cách mạng.
  • Nhà thờ và mộ Lê Bôi ở xã Tùng Ảnh: Danh nhân lịch sử thế kỷ 15
  • Đền Cả Du Đồng ở xã Đức Đồng: Di tích kiến trúc thế kỷ 15.
  • Chùa Am ở xã Đức Hoà: Di tích kiến trúc thế kỷ 15.
  • Đền thờ Ngô Thị Ngọc Giao ở xã Đức Thịnh: Danh nhân lịch sử thế kỷ 15.
  • Đền Voi Mép ở xã Đức Thủy: Di tích kiến trúc thế kỷ 15.
  • Đền thờ Trần Duy ở xã Đức Châu: Danh nhân lịch sử thế kỷ 16
  • Nhà thờ Bùi Dương Lịch ở xã Tùng Ảnh: Danh nhân lịch sử - văn hóa thế kỷ 18
  • Nhà thờ Lê Ninh và họ Lê ở xã Trung Lễ: Danh nhân lịch sử thế kỷ 19
  • Đền Thái Yên ở xã Thái yên
  • Đền Đinh Lễ: ở xã Tùng Ảnh {Quyết định số: 03/2006/QĐ-BVHTT}.
  • Nhà thờ Hoàng Trừng ở xã Đức Nhân
  • Chùa Vền ở xã Đức Tùng
  • Chùa Phượng Tường ở xã Trường Sơn
  • Chùa Hoa Lâm ở xã Đức Lâm
  • Thắng cảnh núi Tùng Lĩnh, Sông La và bến Tam Soa, cầu Linh Cảm
  • Cầu Cố Bá ở Đức Lạc, Đền chợ nướt ở Bình Minh Đức Lạc

Lễ hội truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hội lễ đền Thái Yên ở xã Thái Yên: Vào mùa xuân hàng năm ở Thái Yên đều có lễ hội đền sau đó người dân xã Thái Yên tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao đến tận rằm tháng giêng như: kéo co, thi đấu bóng đá, bóng chuyền, bống bàn, cờ tướng, thi văn nghệ. Đặc biệt cứ hai năm một lần Thái Yên lại tổ chức rước kiệu vào ngày mồng 7 tháng giêng.
  • Hội xuân và trò chơi vạt cầu ở xã Trung Lễ: Đầu mùa xuân.
  • Hội hát ghẹo và tục ăn cá gỏi ở Mỹ Xuyên, xã Đức Lập: vào cuối xuân, đầu hạ.
  • Lễ rước Hến ở Kẻ Thượng ở xã Trường Sơn, Đức Thọ: 07 tháng Giêng âm lịch

Làng nghề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Làng mộc Thái Yên: thuộc xã Đức Bình, huyện Đức Thọ. Thợ mộc Thái Yên giỏi nghề kiến trúc nhà cửa, đình chùa với kỹ thuật cao về chạm, trổ, tiện, xoi...Đồng thời rất khéo tay làm đồ gia dụng kiểu mới như: giường, tủ, bàn ghế....Hàng mộc Thái Yên nổi tiếng trong nước, kể cả Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn và cũng ăn khách ở Hồng Kông, Thượng Hải.
  • Làng đóng thuyền Trường Xuân: thuộc xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ, và làng có 170 hộ làm nghề đóng thuyền, xẽ gỗ. Thợ đóng thuyền Trường Xuân đã đóng hàng nghìn thuyền lớn nhỏ phục vụ đánh cá, vận tải trong hai cuộc kháng chiến, đến nay nghề truyền thống này vẩn được duy trì tốt.
  • Rượu Đức Thanh nay gọi là rượu Thanh Linh, thuộc xã Đức Thanh, có truyền thống nấu Rượu từ hồ xa xưa, rất nổi tiếng với loại rượu cất từ cây lúa nếp, được nấu với công nghệ thủ công truyền thống "3 nồi".

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]