Nam Đàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xem các nghĩa cùng tên tại bài Nam Đàn (định hướng).
Nam Đàn
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 18°41′50″B 105°30′03″Đ / 18,697198°B 105,500797°Đ / 18.697198; 105.500797 (khối Phan Bội Châu, thị trấn Nam Đàn)Tọa độ: 18°41′50″B 105°30′03″Đ / 18,697198°B 105,500797°Đ / 18.697198; 105.500797
Diện tích 293,9 km²
Dân số  
 Tổng cộng 159.000
 Mật độ 541 người/km²
Dân tộc Kinh
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Vùng Bắc Trung Bộ
Tỉnh Nghệ An
Huyện lỵ thị trấn Nam Đàn
 Chủ tịch UBND Thái Văn Nông
 Chủ tịch HĐND Trần Đình Hường
 Bí thư Huyện ủy Trần Đình Hường
Phân chia hành chính
Website namdan.gov.vn

Nam Đàn là một trong 17 huyện, nằm về phía nam đông nam của tỉnh Nghệ An, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm ở hạ lưu sông Lam. Kéo dài từ 18o 34’ đến 18o 47’ vĩ bắc và trải rộng từ 105o 24’ đến 105o 37’ kinh đông, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 48%, còn nữa là đất lâm nghiệp và đồi núi, ao hồ. Huyện Nam Đàn, đông giáp huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc, tây giáp huyện Thanh Chương, bắc giáp huyện Đô Lương, nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Huyện lỵ của Nam Đàn đóng ở Thị trấn Nam Đàn, trên đường quốc lộ 46 Vinh – Đô Lương, cách Thành phố Vinh 21 km về phía tây.

.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện bao gồm 1 thị trấn, 23 xã:

  1. Thị trấn Nam Đàn
  2. Hùng Tiến (gồm Nam Lạc, Nam Hùng, Nam Tiến cũ)
  3. Xã Khánh Sơn
  4. Kim Liên
  5. Xã Nam Giang
  6. Xã Nam Cát
  7. Xã Xuân Lâm
  8. Xã Hồng Long (gồm Nam Hồng, Nam Long cũ)
  9. Xã Nam Lĩnh
  10. Xã Xuân Hòa
  11. Xã Vân Diên
  12. Xã Nam Kim (bao gồm Hợp 1 (Tam Giáp) Hợp 2; Hợp 3)
  13. Xã Nam Thái
  14. Nam Anh (bao gồm 9 xóm: xóm 1, xóm 2, xóm 3... xóm 9)
  15. Xã Nam Thanh
  16. Xã Nam Lộc
  17. Xã Nam Thượng
  18. Xã Nam Hưng
  19. Nam Trung
  20. Nam Phúc
  21. Xã Nam Nghĩa
  22. Xã Nam Xuân
  23. Nam Cường (bao gồm 11 xóm: xóm 1, xóm 2, xóm 3a, xóm 3b, xóm 4... xóm 10)
  24. Xã Nam Tân

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn tương đối khắc nghiệt. Hằng năm mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,228 mm, thấp nhất là 1,402 mm, trung bình là 1,428 mm. Bão lụt thường xảy ra vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, gây úng lụt trên diện tích rộng, có lúc kéo dài trong một thời gian dài.

Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn đã được miêu tả tóm tắt và khá đúng trong 4 câu thơ chữ Hán sau đây của Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744 – 1818) ghi trong Nghệ An thi tập của ông khi ông làm Đốc đồng trấn Nghệ An (1777 – 1781) dưới thời vua Lê Hiển Tông:

Hạ lai phong tự hỏa
Thu khứ vũ như ma
Thập nguyệt giang hoàn lạo
Trùng cửu cúc vị hoa

Dịch thơ:

Hè đến gió Lào như lửa đốt
Thu qua mưa phùn lấm tấm sa
Tháng mười sông còn tràn nước lũ
Mồng 9 tháng 9 cúc chưa nở hoa

Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các thắng cảnh ở Nam Đàn có núi Đại Huệ. Phong cảnh ở đây đã được Bùi Huy Bích ghi lại khi thăm chùa Đại Tuệ trên núi:

Đá nhỏ xếp vòng tới đỉnh cao
Đất trời vời vợi dạ nao nao
Trời dăng rặng núi như xoè cánh
Đất nắn dòng sông giống uốn câu
Đường núi xuyên cây, sư khinh hổ
Roi tre gánh cỏ, trẻ lùa trâu
Rất yêu Giếng đá luôn đầy nước
Sâu chỉ bằng lu múc hết đâu

Một thắng cảnh khác là núi Thiên Nhẫn, nơi còn lưu lại bài thơ của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp:

Chiu chít liền những núi,
Trông như ngựa chạy vòng
Miền nam mờ ngọn núi,
Cõi bắc uốn khúc sông.
Bóng chùa Thiên Nhẫn ánh
Suối vọt Lục Niên kề
Tùng cúc nay còn đó
Phong trần vẫn chưa về...

Ở Nam Đàn cũng có nhiều chùa. Kiến trúc chùa Nam Đàn đã lưu lại trong câu ca:

Thứ nhất Nghi môn Tam Tanh
Thứ nhì là cảnh Yên Quỳnh
Thứ ba là đình Nam Hoa
Tập tin:Dinh Hoành Sơn.jpg
Đình Hoành Sơn tại xã Khánh Sơn, Di tích Lịch sử Quốc gia

Nghi môn Tam Tanh nay là đền vua Bà ở xã Hùng Tiến đã bị thời gian tàn huỷ, nhưng vẫn giữ một số giá trị kiến trúc và nghệ thuật. Đình Nam Hoa là 4 ngôi đình nổi tiếng của 4 làng phía hữu ngạn sông Lam gồm: đình Dương Liễu, đình Đông Sơn, đình Hoành Sơn, đình Trung Cần; trong đó đình Hoành Sơn (thuộc xã Khánh Sơn) và đình Trung Cần (thuộc xã Nam Trung) đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (Việt Nam) cấp bằng Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia Việt Nam. Hai đình này đều bằng gỗ, được giới chuyên môn liệt vào bậc nhất trong hệ thống chùa chiền còn ở miền Trung. Tại xã Hồng Long còn lưu giữ phế tích Tháp Nhãn có từ thế kỷ thứ VII, xây toàn bằng đất nung với kỹ thuật lắp ghép độc đáo.

Danh nhân và Khoa bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Nam nhất thống chí ghi: Nam Đàn có núi cao sông sâu nên xuất hiện nhiều người văn võ kiêm toàn. Bùi Dương Lịch, nhà "Nghệ học" thế kỷ 18, viết: Huyện Đông Thành và huyện Nam Đường vĩ nhân đã nhiều, mà khí tiết cũng thiên về mặt Cương Cường Quả Cảm. Hippolyte Le Breton, nguyên Hiệu trưởng Quốc học Vinh đầu thế kỷ 20 viết về Nghệ Tĩnh nói chung: Nghệ Tĩnh trong tất cả mọi thời đại, từ cổ đại cho đến ngày nay là một cái lò phản kháng và là một cái lò trí thức về truyền thống văn hóa (Le Nghe Tinh fut de tous temps – de l’antiquité à nos jours – un foyer de rebellion et un foyer intellectuel en ce qui concerne la tradition culturelle).

Huyện Nam Đàn là quê hương của các danh nhân Việt Nam như Mai Thúc Loan, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh. Nam Đàn cũng là quê hương của 38[cần dẫn nguồn] vị đại khoa Việt Nam như: Đình nguyên, Thám hoa Nguyễn Đức Đạt; Thám hoa Nguyễn Văn Giao đời Nguyễn; Đình nguyên Tiến sĩ Vương Hữu Phu (khoa Canh Tuất- 1910).. Cụ phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc

Những người nổi tiếng ngày nay có: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, Nhà khoa học Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Thứ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo GS. TSKHBành Tiến Long,Thứ trưởng bộ tư pháp - Hiệu trưởng trường đại học Luật HN PGS TS Hoàng Thế Liên, giáo sư hóa học Nguyễn Thạc Cát, Giáo sư Nguyễn Văn Trương (anh hùng lao động)[1], Giáo sư Phạm Như Cương, Giáo sư Nguyễn Thúc Hào, Giáo sư Nguyễn Văn Hường, Giáo sư Nguyễn Thúc Hải, Giáo sư Nguyễn Đình Bảng, Trưởng đoàn đàm phát Thương Mại Việt Mỹ Nguyễn Đình Lương, Phó Viện Trưởng VKSND tối cao Dương Thanh Biểu; Giáo sư Nguyễn Xuân Quỳnh, Giáo Sư toán học Tạ Quang Hải nguyên chủ nhiệm khoa Toán Đại học Vinh; Giáo sư Tiến sĩ Phạm Thị Ngọc Yến- ĐHBK Hà Nội; Đại tá, Tiến sỹ Trần Đình Mai Giảng viên khoa hóa học hạt nhân Học viện Lục Quân Đà Lạt, Tổng giám đốc Binh đoàn Trường Sơn: Thiếu tướng Lương Sỹ Nhung, Nhà văn, dịch giả: Ông Văn Tùng, PGS TS Trần Văn Thụy giảng viên trường đại học y khoa Hà Nội. Tiến Sỹ Trần Đình Hiếu nguyên vụ trưởng UB Kế hoạc Nhà Nước, Thiếu tướng Nguyễn Phong Phú Phó chính uỷ quân khu 4, Tiến Sỹ Trần Đình Phương Vụ trưởng Bộ Văn Hoá-TT, Nghệ sĩ xuất sắc của Liên đoàn nhiếp ảnh Thế giới (FIAP): Hà Hữu Đức; Anh hùng tình báo quân đội Trần Huyền.[cần dẫn nguồn]

Làng nghề[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Đàn có các làng nghề như Làng mộc nề Nam Hoa, làng rèn Quy Chính, làng tương Tự Trì, làng nón Đông Liệt, các làng dệt Xuân Hồ, Xuân Liễu, Tầm Tang, làng nồi đồng Bố Ân, Bố Đức, làng gạch ngói Hữu Biệt, làng dầu bông, dầu lạc Đan Nhiệm, Đồng Trung.

Vùng Đại Huệ có sản phẩm chè xanh thơm ngon.

Văn hóa truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Nam Đàn tồn tại những làn điệu ví phường vải, ví dặm đò đưa.

Con ơi mẹ dặn câu này
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm
Làm người đói sạch rách thơm
Công danh là nợ nước non phải đền...

Các tập tục văn hóa ở Nam Đàn có thể quan sát tại các lễ hội như lễ hội đình Hoành Sơn, lễ hội đền Mai Hắc Đế, lễ rước hến Thanh Đàm và lễ hội Làng Sen trước và trong dịp kỷ niệm ngày sinh Hồ Chí Minh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hán Vũ Đế (140 - 87 Tr.CN) diệt nhà Triệu, chiếm Nam Việt, chia tách nước Nam Việt thành các huyện. Huyện Hàm Hoan bao gồm vùng đất Nam Đàn ngày nay là một trong những huyện lớn của vùng đất thuộc quận Cửu Chân trước đó và Hàm Hoan chính là tên gọi đầu tiên của huyện Nam Đàn ngày nay.
  • Thời Tam Quốc vùng đất này thuộc Đông Ngô (220 - 265 sau CN) và tên huyện được đổi thành Đô Giao.
  • Vua Lê Đại Hành trị vì đất nước từ năm 981 đến năm 1005 đã phân định lại địa giới hành chính và đã đổi tên huyện Hàm Hoan thành huyện Hoan Đường thuộc Hoan Châu.
  • Năm 1036, Lý Thái Tổ sau khi dời đô ra Thăng Long đã đổi Hoan Châu thành châu Nghệ An, huyện Hoan Đường vẫn giữ nguyên tên gọi như trước đó.
  • Hồ Quí Ly lên làm vua (1400 - 1401) đổi tên huyện Hoan Đường thành huyện Thạch Đường.
  • Nhà Minh xâm chiếm nước ta đã tách thành 3 huyện là Thạch Đường, Kệ Giang và Sa Nam.
  • Sau khi Lê Lợi đánh thắng quân Minh, nhà Hậu Lê đã sắp xếp lại bản đồ vào năm 1467 và huyện Hoan Đường được đổi tên thành huyện Nam Đường.
  • Năm 1886 vua Đồng Khánh lên làm vua, vì vua có tên riêng là Nguyễn Phúc Đường nên để tránh phạm húy, chữ “Đường” được đọc chệch đi thành chữ "Đàn", cái tên Nam Đàn có từ đó.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]