Quỳnh Lưu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quỳnh Lưu
Huyện
Địa lý
Diện tích 43.762,87 ha
Dân số (3/4/2013)  
 Tổng cộng 279.977
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
 Chủ tịch UBND Lê Đức Cường
 Bí thư Huyện ủy Nguyễn Văn Thắng
Website quynhluu.nghean.gov.vn

Quỳnh Lưu(漢喃文:瓊瑠縣) là một đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Nghệ An.

Địa lý - Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có đường ranh giới với các huyện thị là 122 km, trong đó đường ranh giới đất liền 88 km và 34 km đường bờ biển.

Khoảng cách từ huyện lỵ là thị trấn Cầu Giát đến thành phố Vinh khoảng 60Km. Phía Bắc giáp với thị xã Hoàng Mai,Phía tây bắc giáp huyện Như Thanh (Thanh Hóa), có chung địa giới khoảng 25 km. Phía Nam và Tây nam giáp với Diễn Châu và huyện Yên Thành với ranh giới khoảng 31 km. Vùng phía Nam huyện có chung khu vực đồng bằng với hai huyện Diễn Châu và Yên Thành (thường gọi là đồng bằng Diễn-Yên-Quỳnh). Phía Tây giáp các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa với ranh giới khoảng 33 km được hình thành một cách tự nhiên bằng các dãy núi kéo dài liên tục mà giữa chúng có nhiều đèo thấp tạo ra những con đường nối liền hai huyện với nhau. Phía Đông huyện giáp biển Đông.

Các đơn vị hành chính thuộc huyện gồm 1 thị trấn Cầu Giát (huyện lỵ) và 32 xã:


Tuy một số thuộc miền núi trung du như Quỳnh Châu, Quỳnh Tam, Quỳnh Thắng, nhưng phần lớn các xã nằm ở vùng đồng bằng nhỏ hẹp dọc theo biển Đông.

Khí hậu và thời tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳnh Lưu nằm trong khu vực nhiệt đới nhưng lại ở miền biển nên thường nhận được ba luồng gió:

- Gió mùa Đông Bắc nằm sâu trong lục địa lạnh lẽo của vùng Sibia và Mông Cổ, từng đợt thổi qua Trung Quốc và vịnh Bắc Bộ tràn về, bà con gọi là gió bắc.

- Gió mùa Tây Nam ở tận vinh Băng-gan tràn qua lục địa, luồn qua các dãy Trường Sơn, thổi sang mà nhân dân thường gọi là gió Lào nhưng chính là gió tây khô nóng.

- Gió mùa Đông nam mát mẻ từ biển Đông thổi vào nhân dân gọi là gió nồm

Khí hậu Quỳnh Lưu chia làm hai mùa rõ rệt:

- Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch. Mùa này tiết trời nóng nực, nhiệt độ trung bình 30C, có ngày lên tới 40C.

- Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 dương lịch năm sau. Mùa này thường có gió mùa đông bắc, mưa kéo dài.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài tuyến đường sắt bắc nam chạy dọc theo chiều từ bắc xưống nam huyện,huyện này còn có tuyến đường sắt địa phương nối từ Giát qua ngã ba Tam Lệ, lên huyện Nghĩa Đàn. Đây là một trong số rất ít các tuyến đường sắt nội tỉnh ở Việt Nam, nối đường sắt quốc gia với vùng đất đỏ Phủ Quỳ.

Ngoài quốc lộ 1A chạy dọc theo vùng trung tâm huyện, còn có quốc lộ 48 chạy cắt qua các xã phía tây nam huyện lên thị xã Thái Hoà, huyện còn có 2 tỉnh lộ 537A và 537B nối từ quốc lộ 48 chạy về các xã ven biển tạo thành hình vòng cung,

Với 3 cửa sông đổ ra biển và được nối với nhau bởi hệ thống kênh đào nhà Lê, giao thông đường thuỷ được nối thông suốt từ bắc xuống nam, từ tây sang đông huyện, hiện nay đã có một cảng cá ở cửa lạch Quèn phục vụ cho nghề cá rất phát triển ở đây.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Với đặc điểm địa lý của huyện, người dân miền tây chủ yếu trồng cây công nghiệp như Cao su, Cà phê, Dứa... Người dân vùng đồng bằng chủ yếu là trồng lúa Người dân vùng biển thường sống bằng nghề đánh bắt cá, làm muối và trồng rau. Ngoài ra Quỳnh Lưu là một trong 2 huyện ở nước ta có nghê nuôi hươi lấy nhung rất phát triển, hiện có khoảng gần 12000 con đang được nuôi trong các hộ dân.

Di tích - Danh thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳnh Lưu có khu du lịch Biển Quỳnh chạy dài từ Quỳnh Lập vào Tiến Thủy với bãi cát vàng, động Hang Dơi Quỳnh Tam.

Lịch sử - Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳnh Lưu là một vùng đất cổ có cư dân sinh sống từ rất lâu đời. Bằng chứng là di chỉ văn hoá Quỳnh Văn. Ngoài Quỳnh Văn, các di chỉ cồn sò, điệp thuộc loại hình văn hoá Quỳnh Văn còn có ở các xã Quỳnh Hoa, Quỳnh Hậu, Quỳnh Xuân, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh Minh, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Hồng, Mai Hùng,…

Niên đại văn hoá Quỳnh Văn được xác định là ít nhất ở thời kỳ đồ đá, tức là cách ngày nay khoảng 6000 năm. Cư dân nguyên thuỷ ở Quỳnh Lưu sinh sống thành từng bộ lạc ở vùng lõm, đồng lầy dọc bờ biển. Chính bằng lao động của mình, những chủ nhân cổ xưa trên mảnh đất Quỳnh Lưu đã "khai thiên phá thạch", vật lộn với thiên nhiên, tạo nên một kỳ tích hình thành vùng đất và hình thành cộng dân cư thời xa xưa.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Quỳnh Lưu xuất hiện vào thế kỷ XV thời Nhà Lê (1430) ở cương vực từ biển Đông lên tận Quỳ Châu gồm 7 tổng phía trên (thuộc đất huyện Nghĩa Đàn hiện nay) và 4 tổng phía dưới (thuộc đất huyện Quỳnh Lưu ngày nay). Từ năm 1430 trở về trước, cương vực Quỳnh Lưu hiện nay thuộc đất Hàm Hoan (tên của vùng Nghệ Tĩnh từ thế kỷ I đến thế kỷ III).

Từ cuối thể ký III đầu thế kỷ IV, Hàm Hoan đổi tên thành Đức Châu.

Đến giữa thế kỷ VII (năm 650) thời Bắc thuộc, Nghệ Tĩnh hiện nay được gọi là Hoan Châu, rồi đến nửa cuối thể kỷ VIII (năm 764), Hoan Châu tách ra thành Hoan Châu và Diễn Châu. Diễn Châu lúc bấy giờ bao gồm các huyện ngày nay của Nghệ An như Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong.

Thời nhà Lý, Diễn Châu là một châu, sau đổi thành một lộ và sau nữa đổi thành phủ, tức là một đơn vị hành chính thuộc chính quyền trung ương từ năm 1010 đến 1225, Quỳnh Lưu lúc bấy giờ nằm trong châu, lộ hoặc phủ Diễn Châu.

Đến thời Trần, vùng Hoan Châu và Diễn Châu được đổi tên là trại, sau là lộ, phủ; năm 1397, Diễn Châu được gọi là trấn với tên là Vọng Giang.

Thời nhà Hồ, trấn Vọng Giang được đổi thành phủ Linh Nguyên (nghĩa là đất linh thiêng) gồm đất Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu và Nghĩa Đàn ngày nay.

Đến thời Lê, Diễn Châu chỉ là một phủ của Nghệ An. Phủ Diễn Châu thời kỳ này bao gồm hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu. Như vậy, tên "Quỳnh Lưu" lần đầu tiên xuất hiện ở thời nhà Lê với niên đại được xác định là năm 1430.

Từ mốc thời gian thành lập huyện Quỳnh Lưu trở đi tức là đến thời nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thừ 12 (1831), cả nước chia thành 29 tỉnh, trong đó tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh được lập riêng. Quỳnh Lưu là đơn vị hành chính thuộc phủ Diễn Châu của tỉnh Nghệ An gồm 11 tổng. Từ năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), 7 tổng ở vùng trên được tách thành huyện Nghĩa Đường (sau đổi tên thành Nghĩa Đàn), 4 tổng còn lại (Quỳnh Lâm, Hoàng Mai, Hoàn Hậu, Thanh Viên) là huyện Quỳnh Lưu như hiện nay thuộc phủ Diễn Châu.

Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, năm 1919, chính quyền thực dân phong kiến bỏ cấp phủ, Quỳnh Lưu trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh không còn là cấp dưới thuộc Diễn Châu nữa.

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2/9/1945), địa giới huyện Quỳnh Lưu cho đến nay về cơ bản không có gì thay đổi lớn. Tuy nhiên một số làng phía bắc huyện Diễn Châu và huyện Yên Thành được sáp nhập vào huyện Quỳnh Lưu. Từ đó đến nay, một số tên xã cũng được thay đổi. Theo đà phát triển của kinh tế - xã hội, các đơn vị hành chính cấp xã trong huyện Quỳnh Lưu có thể còn thay đổi theo hướng lập ra những đơn vị mới trên cơ sở tách ra từ những đơn vị cũ.

Trước khi chia tách, huyện Quỳnh Lưu có 43 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn: Cầu Giát (huyện lị), Hoàng Mai và 41 xã: Mai Hùng, Quỳnh Vinh, Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập, Quỳnh Dị, Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh Xuân, Quỳnh Trang, An Hòa, Ngọc Sơn, Quỳnh Đôi, Quỳnh Bá, Quỳnh Bảng, Quỳnh Châu, Quỳnh Diễn, Quỳnh Giang, Quỳnh Hồng, Quỳnh Hậu, Quỳnh Hưng, Quỳnh Hoa, Quỳnh Lâm, Quỳnh Lương, Quỳnh Long, Quỳnh Minh, Quỳnh Mỹ, Quỳnh Ngọc, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Tân, Quỳnh Tam, Quỳnh Thắng, Quỳnh Thạch, Quỳnh Thọ, Quỳnh Thanh, Quỳnh Thuận, Quỳnh Văn, Quỳnh Yên, Sơn Hải, Tân Sơn, Tiến Thủy, Tân Thắng.

Ngày 3 tháng 4 năm 2013, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Hoàng Mai và 9 xã: Mai Hùng, Quỳnh Vinh, Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập, Quỳnh Dị, Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh Xuân, Quỳnh Trang được tách ra thành lập thị xã Hoàng Mai.

Văn hóa, danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳnh Lưu còn là nơi phát tích của dòng họ Hồ ở Việt Nam từ thế kỷ thứ 10. Hồ Hưng Dật, người huyện Vũ Lâm, tỉnh Chiết Giang, đậ­u Trạng nguyên từ thời vua Ẩn Đế (948 - 995) nhà Hậu Hán, sang làm Thái thú Châu Diễn, đến hương Bào Đột (nay thuộc xã Quỳnh Lâm và xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) lậ­p nghiệp, làm trại chủ và trở thành vị tổ khai cơ họ Hồ ở Châu Diễn. Họ Hồ ở Quỳnh Lưu có các nhân vật nổi tiếng như nhà Vua Hồ Quý Ly; nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương; bảng nhãn Hồ Sĩ Dương, Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống, Hồ Phi Tích, nhà cách mạng Hồ Tùng Mậu, Hoàng Văn Hợp, liệt sĩ cách mạng kháng chiến chống Pháp (1930-1931) nguyên Huyện ủy viên huyện ủy Quỳnh Lưu,... Họ Hồ đến Yên Thành thì có Hồ Tông Thốc,... ra Thanh Hóa thì sinh ra Hồ Quý Ly,... vào Hưng Nguyên thì tạo nên dòng dõi Quang Trung nhà Tây Sơn.

Quỳnh Lưu còn là quê hương của nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng trong lịch sử như: Thám hoa Dương Cát Phủ; danh sĩ Phạm Đình Toái, Hoàng Văn Hoan...

Ngày nay có những người nổi tiếng: chính khách Hồ Đức Việt; nhà báo Hồ Anh Dũng; Trung tướng Lê Nam Phong; Trung tướng, PGS, TS, NGND Phan Đức Dư (Giám đốc Học viện An ninh nhân dân); Giáo sư Phan Cự Đệ; Giáo sư Phan Nguyên Di; nhà văn Nguyễn Minh Châu (tác giả 'Dấu chân người lính'); nhà văn Bùi Hiển; nhà thơ Tú Mỡ; nhà thơ Hoàng Trung Thông, nhà thơ trào phúng Dương Quân, Thiếu tướng, Nhạc sỹ An Thuyên, Nhạc sỹ Ánh Dương; Các anh hùng Cù Chính Lan, Phan Văn Trinh, Vũ Văn Huynh, Hoàng Hữu Nhất, Hoàng Quốc Đông, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Minh Châu; ông Hồ Mẫu Ngoạt- Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh văn phòng Tổng bí thư

Các Di tích lịch sử được Nhà nước Việt Nam xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Di chỉ khảo cổ học Quỳnh Văn ở xã Quỳnh Văn
  • Đền Quỳnh Tụ
  • Nhà thờ hộ Hồ ở xã Quỳnh Đôi
  • Đình Tám Mái ở xã Quỳnh Thuận
  • Đình Làng Quỳnh Đôi ở xã Quỳnh Đôi
  • Đền Thượng ở xã Quỳnh Nghĩa
  • Đền Voi ở xã Quỳnh Hồng
  • Đền Cờn ở xã Quỳnh Phương

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]