Nghĩa Đàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Nghĩa Đàn
Địa lý
Huyện lỵ
Vị trí:
Diện tích: km²
Số xã, thị trấn:
Dân số
Số dân:
Mật độ: người/km²
Thành phần dân tộc:
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân:
Bí thư Huyện ủy: {{{HU}}}
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở:
Số fax trụ sở:
Địa chỉ mạng:

Nghĩa Đàn là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, nằm phía bắc của tỉnh, cách thành phố Vinh chừng 90 km, giáp các huyện Quỳnh Lưu, Quỳ Châu, Yên Thành, Tân Kỳ, Quế Phong.

- Huyện Nghĩa Đàn ra đời lúc nào Ngược dòng lịch sử, về mặt hành chính, vùng đất đỏ bazan này đã trải qua nhiều lần cắt, nhập với các địa phương lân cận và nhiều tên gọi khác nhau. Đến triều Nguyên, năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) tổ chức hành chính Nghệ AN được sắp xếp lại và lập thêm một số huyện. Phủ QUỳ Châu vốn trước có 2 huyện là Trung Sơn (Quế Phong ngày nay) và Thuý Vân (Tương đương phần lớn đất Quy Châu và Quỳ Hợp ngày này) được c hính ra và lập thêm một huyện mới: huyện Nghĩa Đường. năm 1886, Đồng Khánh dã cho đổi Nghĩa Đường thành Nghĩa Đàn (vì kỵ huý). Tên huyện Nghĩa Đàn bắt đầu có từ đó. Huyện Nghĩa Đàn được thành lập trên cơ sở trích đất 7 tổng huyện Quỳnh Lưu, một tổng của huyện Yên Thành, một tổng của huyện Thuý Vân cũ do phủ Quỳ Châu kiêm lý. Ngay sau khi thành lập, huyện Nghĩa Đàn có vị trí quan trọng của phủ Quỳ Châu. Năm 1896, tỉnh Nghệ An có 5 phủ: Hưng Nguyên, Diễn Châu, Anh Sơn, Tương Dương, Quỳ Châu và 6 huyện: Nam Đàn, Thanh Chương, Nghi Lộc, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn. Năm 1930, huyện Nghĩa Đàn có 6 tổng (Cự Lâm, Thái Thịnh, Nghĩa Hưng, Thạnh Khê, Lâm La) với 58 xã, thôn. Huyện đường đặt tại Tân Hiếu (xã Nghĩa Quang ngày nay). Cơ cấu hành chính tồn tại cho đến ngày Cách mạng thámg Tám 1945. Đến tháng 5 – 1963, Nghĩa Đàn được chia thành 2 huyện là Nghĩa Đàn, huyện Tân Kỳ, một số xã cắt sang huyện Quỳ Hợp.


Mục lục

[sửa] Địa lý

[sửa] Vị trí

Huyện Nghĩa Đàn nằm trong khoảng từ 19°13' đến 19°33' vĩ độ Bắc và 105°18' đến 105°35' độ kinh đông.

  • Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá
  • Phía Nam giáp Huyện Tân Kỳ và huyện Quỳnh Lưu
  • Phía Đông giáp huyện Quỳnh Lưu và tỉnh Thanh Hoá
  • Phía Tây giáp huyện Quỳ Hợp
  • Trung tâm huyện cách thành phố Vinh 85 km.

Nghĩa Đàn có diện tích tự nhiên là 75.578 ha, chiếm 4,5% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Nghệ An. Có quốc lộ 48 chạy dọc xuyên suốt huyện, có đường mòn Hồ Chí Minh chạy ngang, điều kiện giao thông thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

[sửa] Địa hình

Nghĩa Đàn có địa hình khá thuận lợi so với các huyện trung du, miền núi của tỉnh. Huyện có đồi núi không cao, thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, bao quanh là các dãy núi có độ cao từ 300 m đến 400 m như Chuột Bạch, Cột Cờ, Bồ Bồ, Hòn Sương… Vùng trung tâm gồm nhiều dãy đồi bát úp thấp và thoải, xen kẽ giữa chúng là các thung lũng bằng phẳng với độ cao trung bình từ 50 m đến 70 m.

Với đặc điểm địa hình bề mặt của huyện Nghĩa Đàn có 8,0% diện tích tự nhiên là đồng bằng thung lũng, 65% là đồi núi thấp thoải, 27% là núi tương đối cao đã tạo cho địa phương nhiều vùng đất thoải bằng với quy mô diện tích lớn, thuận lợi để phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp kết hợp có hiệu quả cao.

[sửa] Thời tiết, khí hậu

Nghĩa Đàn là nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm. Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23,0°C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 41,6°C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 0,2°C, tổng nhiệt bình quân hàng năm: 8 503°C. Lượng mưa bình quân hàng năm là 1591,7 mm (trong khi bình quân vùng Phủ Quỳ là 1563 mm, toàn tỉnh là 1853 mm), lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm: mưa tập trung vào các tháng 8, 9, 10. Mùa khô lượng mưa không đáng kể. Hướng gió chủ yếu là Tây Bắc, Đông Nam, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của gió Phơn Tây Nam (gió Lào) khoảng từ tháng 5 đến tháng 8.

Đặc điểm khí hậu nêu trên là điều kiện thuận lợi để nuôi trồng các loại cây, con vùng nhiệt đới.

[sửa] Tài nguyên thiên nhiên

[sửa] Tài nguyên đất

Tổng diện tích tự nhiên: 75.578 ha. Trong đó:

  • Đất nông nghiệp: 35.345 ha
  • Đất lâm nghiệp: 22.203 ha
  • Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá: 6.150 ha

Theo các tài liệu cập nhật mới nhất của sở Tài nguyên – Môi trường Nghệ An thì Nghĩa Đàn có 14 loại đất chính thuộc 2 nhóm lớn theo nguồn gốc phát sinh: đất thuỷ thành và đất địa thành.

Nhóm đất thuỷ thành có diện tích 18.672 ha chiếm 25,3% đất toàn huyện gồm 6 loại đất sau:

  • Đất phù sa ven sông được bồi đắp hàng năm: 1.400 ha (1,9%)
  • Đất phù sa không được bồi: 4.110 ha (5,6%)
  • Đất phù sa có nhiều sản phẩm beranit: 4.680 ha (6,3%)
Các loại đất này phân bố chủ yếu ở hai bên sông Hiếu
  • Đất nâu vàng phát triển trên vùng phù sa cổ lũ tích 3.610 ha (4,9%)
Loại đất này được phân bố ở xã Nghĩa Minh, Nghĩa Mai, Nghĩa Lâm. Hiện đang trồng cây lương thực và cây ăn quả.
  • Đất dốc tụ
  • Đất feralit biển đổi do trồng lúa.
Hai loại đất này có diện tích 4.872 ha (6,6%) được phân bố ở các xã Nghĩa Đức, Nghĩa Liên, Nghĩa Lâm, Nghĩa Mai, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Hội, Nghĩa Lợi, các nông trường ( trước đây) Tây Hiếu 2, Cờ Đỏ.

Nhóm đất địa thành có diện tích 54.132 ha, chiếm 73,1% diện tích tự nhiên của huyện, bao gồm 7 loại đất chính:

  • Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá mắc ma trung tính hay còn gọi là đất bazan: 13.439 ha (18,2%), phân bố tập trung ở cá xã Nghĩa An, Nghĩa Liên, Nghĩa Tiến, Nghĩa Đức và các nông trường. Hiện loại đất này đã sử dụng 9.763 ha vào mục đích trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả.
  • Đất đen trên đá típ: 1.970 ha (2,7%) tập trung chủ yếu ở Hòn En (Tây Hiếu), Hòn Tuộc (Đông Hiếu), các nông trường 1-5, 19-5. Đây là loại đất thích nghi với cây công nghiệp dài ngày.
  • Đất đen cácbônat: 2.583 ha (3,5%), phân bố nhiều ở xã Nghĩa Yên, Nghĩa Mai, thích nghi với cây công nghiệp ngắn ngày, nhất là cây mía.
  • Đất feralit đỏ vàng phát triển trên núi đá vôi: 839 ha (1,1%)
  • Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch và sét: 26.873 ha (36,3%)
  • Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá cát kết: 700 ha (0,9%)

Các loại đất này rất tốt (trừ 700 ha đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá cát kết) thích nghi với nhiều loại cây trồng.

Tóm lại, tài nguyên đất của huyện Nghĩa Đàn rất phong phú, thích hợp với nhiều loại cây trồng nhất là các loại cây công nghiệp và cây ăn quả. Đây là thế mạnh để phát triển lâu dài các ngành kinh tế của huyện.

[sửa] Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê năm 2005, tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện là: 22.203 ha chiếm 29,38% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó:

  • Đất rừng tự nhiên: 15.321,31 ha chiếm 69,3%
  • Đất rừng trồng: .6.831,69 ha chiếm 30,7%

Tài nguyên rừng của huyện rất phong phú, có nhiều loại gỗ quý với trữ lượng lớn, đây là nguyên liệu chính phục vụ sản xuất mộc mỹ nghệ và mộc dân dụng. Có nhiều loài thú quý hiếm nhưng hiện nay đang có nguy cơ cạn kiệt do săn bắn và do thiếu nơi cơ trú. Diện tích rừng tự nhiên ngày càng giảm do việc khai thác chưa hợp lý. Tuy nhiên, huyện cũng đã và đang cố gắng tăng diện tích rừng trồng nhằm cân bằng lại hệ sinh thái vốn phong phú, đa dạng đang có nguy cơ bị tàn phá nặng nề.

[sửa] Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản ở Nghĩa Đàn có các loại sau:

  • Đá bọt bazan (làm nguyên liệu phụ gia cho xi măng) có trữ lượng 100-150 triệu m³, tập trung ở Hòn Én (Tây Hiếu), đồi trọc Nghĩa Mỹ và phân bố ở các xã Nghĩa Mai, Nghĩa An, Nghĩa Tiến...
  • Đá vôi và đá hoa cương, trữ lượng một triệu m3, tập trung ở xã Nghĩa Tiến.
  • Sét, gạch ngói: Trữ lượng 6-7 triệu m³, tập trung ở xã Nghĩa Hoà, Nghĩa Thắng, Nghĩa Quang.
  • Nước khoáng cacbonat: Lưu lượng 11/s ở Nghĩa Quang.
  • Than Việt Thái: Mỏ than non, trữ lượng bé.
  • Thiếc: Điểm mỏ Nghĩa Liên, trữ lượng bé.

Tài nguyên khoáng sản rất đa dạng và dồi dào, trữ lượng lớn, thuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp khai thác, cung cấp đầu vào cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.

[sửa] Tài nguyên nước - thuỷ sản

  • Nguồn nước bề mặt

Chủ yếu là từ sông Hiếu, sông Dinh và trên 50 chi lưu lớn nhỏ. Sông Hiếu là nhánh sông chính của hệ thống sông Cả, chảy qua địa phận huyện Nghĩa Đàn với chiều dài trên 50 km (từ ngã ba Dinh đến khe Đá). Tổng lưu lượng dòng chảy bình quân nhiều năm qua Nghĩa Đàn là 3,7 tỷ m3 nước. - Dòng chảy lớn nhất mùa lũ: 5810m3/s - Dòng chảy mùa kiệt chỉ đạt: 13m3/s Sông Hiếu có 5 nhánh chảy vào đó là: - Sông Sào: có lưu vực 160km2, dào 34km. - Khe Cái: dài 23km. - Khe Hang: dài 23km - Khe Diên: dài 16km - Khe đá: dài 17km, có diện tích lưu vực 50km2. Ngoài 5 nhánh trên còn có 43 khe suối nhỏ. Ngoài ra, còn có trên 100 hồ đập thuỷ lợi với trữ lượng hàng chục triệu m3- đây là lợi thế về nguồn nước mặt cho phát triển kinh tế nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và là cơ sở cho việc xây dựng vùng du lịch sinh thái sau này.

  • Nguồn nước ngầm

Cho đến nay, chưa có tài liệu nào đánh giá chính thức về nguồn nước ngầm ở huyện Nghĩa Đàn nhưng qua thực tế cho thấy mạch nước ngầm ở huyện Nghĩa Đàn tương đối dồi dào. Khả năng khai thác nguồn nước ngầm phục vụ các ngành sản xuất là rất lớn.

[sửa] Dân cư

Huyện Nghĩa Đàn có 61.754,01 ha diện tích tự nhiên và 129.158 nhân khẩu

[sửa] Hành chính

Gồm có 24 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm các xã: Nghĩa Bình, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng, Nghĩa Hội, Nghĩa Trung, Nghĩa Liên, Nghĩa Mai, Nghĩa Yên, Nghĩa Minh, Nghĩa Lâm, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lợi, Nghĩa Thọ, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Tân, Nghĩa Sơn, Nghĩa Hồng, Nghĩa Phú, Nghĩa Long, Nghĩa Lộc, Nghĩa An, Nghĩa Khánh và Nghĩa Đức.

Nghĩa An là một xã miền núi của huyện Nghĩa Đàn, cách trung tâm huyện lỵ 14 Km về phía Tây Nam. Diện tích đất tự nhiên: 1.471 ha, diện tích canh tác 882 ha, đất lâm nghiệp 119 ha, đất chuyên dùng 187 ha, đất ở 37 ha, đất chưa sử dụng 238 ha. Dân số: 1.252 hộ với 6.590 khẩu. Trong đó có 670 hộ với 3.426 khẩu dân tộc thiểu số, 237 hộ với 1.415 khẩu giáo dân. Toàn xã có 2.985 lao động. Tổng thu nhập/ năm: 21.871 triệu đồng. Thu nhập bình quân 3.500.000 đồng/ người/ năm. Điều kiện giao thông: có Tỉnh lộ 545 đi qua xã, với chiều dài 3,5 km. Đường liên xã cấp phối dài 5 Km. Đường liên thôn 17 Km, đường bê tông 3,7 Km. 100 % số xóm trong xã có điện lưới Quốc gia.

XÃ NGHĨA ĐỨC

1. Nguồn lực tự nhiên

Nghĩa Đức là xã thuộc vùng sâu vùng xa cách trung tâm huyện 20km về phía Tây Nam. Đường địa giới hành chính giáp với 2 huyện: Phía Tây Nam giáp huyện Tân Kỳ, phía Bắc giáp huyện Quỳ Hợp.

Tổng diện tích tự nhiên là 3549,37 ha. Là xã có địa hình đồi núi phức tạp, 2/3 là diện tích đồi núi. đất đai được phân thành 2 vùng chính: thượng lưu và hạ lưu. Ngăn cách giữa hai vùng là hồ Khe Đá, có diện tích mặt nước là 500ha, là một công trình thuỷ lợi lớn, lấy nguồn nước tưới cho đồng ruộng của Nghĩa Đức, Nghĩa Khánh và một số xã của huyện Tân Kỳ.

2. Nguồn lực kinh tế

2.1. Về đất đai

Đất vùng thượng lưu chủ yếu là đất đồi núi, rừng tự nhiên và rừng trồng phòng hộ. Xen lẫn giữa đồi núi là những dãi đất đen màu mỡ. nguồn nước mạch ở các chân đồi tạo thành khe suối chảy quanh năm ra hồ khe Đá.

Vùng hạ lưu chủ yếu là khu vực phân bố dân cư và trung tâm văn hoá xã hội của xã.

Nối liền các cụm dân cư là mạng lưới giao thông đường đất tạm ổn định. đất đai chủ yếu là ruộng hai lúa, đất màu băng và các dãi đồi Tràm trồng cây lâu năm và cây lâm nghiệp.

Có 6 loại đất chính,

- Đất nâu đỏ trên Macma Bazan và trung tính.

- Đất đỏ vùng trên đá sét và đất biến chất

- Đất đen (đất bồi tụ)

- Đất kết non đá ong

- Đất vàng nâu trên phù sa cổ.

- Đất thung lũng do sản phẩm bồi tụ

2.2. Khoáng sản

- Đá vôi: trữ lượng 25 tr m3

- Đất sét với trữ lượng 400.000 m3

- Mặt nước với diện tích 540 ha khả năng đưa vào đánh bắt thuỷ sản là 25ha.

2.3. Khí hậu thời tiết

Chịu ảnh hưởng chung của khí hậu Bắc trung bộ, ngoài ra còn chịu chi phối của khí hậu miền núi, tiểu khí hậu thung lũng Nghĩa Đàn

Nhiệt độ mùa đông có năm < 50C ,mùa hè có năm lên đến 400C. có mùa khô hạn và mùa mưa, rất ít năm có lượng mưa phân bổ đều, thường mưa lớn tập trung, lượng mưa bình quân hàng năm là 1200 - 1300mm.


2.4. Nguồn lực xã hội

Mật độ dân số là 137 người/km2, dân cư phân bố không đồng đều, chủ yếu ở vùng hạ lưu với mật độ là 383 người/km2. Vùng thượng lưu với mật độ 17,4 người/km2.

Có 3 dân tộc sinh sống trên địa bàn gồm Kinh, Thái, Thổ

Trong đó:

- Người kinh: 2.526

- Người Thái: 1041

- Người Thổ: 1151

Tổng số lao động là 1530 người

XÃ NGHĨA HOÀ

1. Nguồn lực tự nhiên

Nghĩa Hoà là một xã giáp Thị trấn Thái Hoà, có đường quốc lộ 48 chạy qua, Sông Hiếu chạy dọc theo chiều dài của xã. Trữ lượng cát, sỏi, phù sa hàng năm bồi đắp hàng trăm ngàn mét khối. Có dãy núi đá vôi Diễn Bình phục vụ cho nhu cầu xây dựng cơ bản. Là xã vành đai thi trấn, nhu cầu về cung cấp rau xanh, hoa, cây cảnh là rất lớn. Khi Thái Hoà trở thành thị xã, một nửa xã Nghĩa Hoà sẽ nằm trong quy hoạch thị xã, tạo bước nhảy vọt trong phát triển kinh tế, xã hội

Diện tích đất tự nhiên: 1.621,92 ha,

Dân số 3.330 khẩu với 707 hộ

Đồng bào dân tộc thiểu số chiểm 54,4 %

2. Nguồn lực kinh tế

2.1. Về đất đai

Tổng diện tích tự nhiên là 1.621,92 ha đựơc phân bố:

- Đất nông nghiệp: 486,02 ha

- Đất vườn: 96,65 ha

- Đất Lâm nghiệp: 730,3 ha

- Đất chuyên dùng: 91,89 ha

- Đất Thuỷ lợi: 5,5 ha

- Đất ở: 28,55 ha

- Đất nghĩa địa: 21,9 ha

- Đất di tích khảo cổ: 1,75 ha

- Đất chưa sử dụng: 285,66 ha

- Đất sông, suối, bãi cát: 26,27 ha

2.2. Nguồn nước

Ngoài nước dòng sông Hiếu còn có 10 hồ đập đảm bảo 70% tưới cho cây trồng. trong tương lai sẽ được hưởng lợi từ nguồn nước sông Sào

2.3. Khoáng sản

Có 3 bãi khai thác cát, sỏi gồm Long Hạ, Tân Ấp, Diễn Bình phục vụ nhu cầu xây dựng trong và ngoài xã. Có 3 khu vực khai thác đá xây dựng Long Châu, Đồng Chương và Diễn Bình.

2.3. Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Đất sản xuất gạch ngói có 10 ha có thể khai thác thời gian 20 năm nữa, mỗi năm cho ra lò 10 triệu viên. Có nghề mộc, xây, ép dầu lạc, làm miến, bún, hương, dịch vụ hàng hoá. Có khả năng xây dựng là nghề truyền thống.

2.4. Nguồn lực xã hội

- Mật độ dân số 426 người/km2 chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người.

- Về lao động: Tổng lao động toàn xã là 6.907 lao động

+ Lao động nữ: 1.340 người

+ Lao động nam: 1.396 người

- Có 4 dân tộc: Kinh, Thanh, Thái, Thổ.

- Có di tích khảo cổ làng Vạc, trong một vài năm tới đầu tư sẽ trở thành khu du lịch và lễ hội vùng

XÃ NGHĨA LÂM

1. Nguồn lực tự nhiên

Nghĩa Lâm là một xã vùng cao của huyện Nghĩa Đàn, vị trí địa lý thuộc Đông Bắc của huyện Nghĩa Đàn, cách trung tâm huyện 15km

- Phía Bắc giáp xã: Xuân Bình - Như Xuân - Thanh Hoá

- Phía Nam giáp xã Nghĩa Minh

- Phía Tây giáp xã Nghĩa Sơn

- Phía Đông giáp xã Nghĩa Lạc

Diện tích đất tự nhiên: 3.042 ha,

Dân số 6.674 người với 1.341 hộ

Gồm 4 dân tộc anh em là Thanh, Thái, Thổ, Kinh. Đồng bào dân tộc thiểu số chiểm 49 %

2. Nguồn lực kinh tế

2.1. Về đất đai

Tổng diện tích tự nhiên là 3.042 ha đựơc phân bố:

- Đất nông nghiệp: 1.183,7 ha

- Đất vườn: 156,9 ha

- Đất Lâm nghiệp: 805,9 ha

- Đất chuyên dùng: 541,63 ha

- Đất ở: 34,77 ha

- Đất nghĩa địa: 21,9 ha

- Đất chưa sử dụng: 476,53 ha

2.2. Nguồn nước

Xã Nghĩa Lâm có 10,3 ha mặt nước ao hồ nuôi trồng thuỷ sản, trong đó chủ yếu kết hợp lấy nước cho diện tích lúa 105 ha và kết hợp nuôi trồng thuỷ sản.

2.3. Thời tiết và khí hậu

Trong những năm trở lại đây, thời tiết xảy ra thất thường, hạn hán, nắng nóng gay gắt. Lượng mưa hàng năm chưa đáp ứng cho sinh hoạt và sản xuất. Nhiệt độ trung bình hàng năm tăng, thời tiết xảy ra phức tạp làm ảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp của xã nhà.

2.3. Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Đất sản xuất gạch ngói có 10 ha có thể khai thác thời gian 20 năm nữa, mỗi năm cho ra lò 10 triệu viên. Có nghề mộc, xây, ép dầu lạc, làm miến, bún, hương, dịch vụ hàng hoá. Có khả năng xây dựng là nghề truyền thống.

2.4. Nguồn lực xã hội

- Mật độ dân số 220 người/km2

- Về lao động: Tổng lao động toàn xã là 2.560lao động

+ Lao động nữ: 1.330 người

+ Lao động nam: 1.230 người

[sửa] Lịch sử

  • Từ thời nhà Hậu Lê, Nghĩa Đàn nằm trong huyện Quỳnh Lưu, phủ Diễn Châu, xứ Nghệ An, sau đó là trấn Nghệ An.
  • Năm 1831, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12, trấn Nghệ An chia ra thành tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thì Nghĩa Đàn thuộc huyện Quỳnh Lưu, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
  • Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), 7 tổng ở phía tây của huyện Quỳnh Lưu được tách thành huyện Nghĩa Đường (sau đổi tên thành Nghĩa Đàn) thuộc phủ Quỳ Châu.
  • Năm 1919, chính quyền thực dân phong kiến bỏ cấp phủ, Nghĩa Đàn trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Nghệ An.

[sửa] Văn hóa

[sửa] Kinh tế

Tổng giá trị sản xuất của huyện không ngừng tăng lên qua các năm. Phát huy những thành quả đạt được năm 2004, năm 2005 tổng giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) đạt: 1.452.550 triệu đồng, đạt 145,8% so với cùng kỳ năm 2004. Theo báo cáo tổng kết năm 2005 của UBND huyện Nghĩa Đàn, tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định năm 1994) là: 980.478 triệu đồng, đạt 117,2% so với cùng kỳ năm 2004. Như vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng lên đáng kể là 17,2% (so với năm 2004 là 15,4%). Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm qua khá cao (13,4%).

[sửa] Liên kết ngoài


Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện thị trực thuộc tỉnh Nghệ An, Việt Nam Bản đồ hành chính Nghệ An
Thành phố (1): Thành phố Vinh (tỉnh lị)
Thị xã (2): Cửa Lò | Thái Hòa
Huyện (17): Anh Sơn | Con Cuông | Diễn Châu | Đô Lương | Hưng Nguyên | Quỳ Châu | Kỳ Sơn | Nam Đàn | Nghi Lộc | Nghĩa Đàn | Quế Phong | Quỳ Hợp | Quỳnh Lưu | Tân Kỳ | Thanh Chương | Tương Dương | Yên Thành


Công cụ cá nhân