Nghĩa Đàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Nghĩa Đàn
Địa lý
Huyện lỵ {{{Huyện lỵ}}}
Vị trí: toạ độ địa lý 105018’ – 105035’ kinh độ Đông và 19013’ – 19033’ vĩ độ Bắc
Diện tích: 61.775,35 ha km²
Số xã, thị trấn:
Dân số
Số dân: 131.134 người
Mật độ: {{{Mật độ}}} người/km²
Thành phần dân tộc: Kinh, Thanh, Thái, Thổ
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: {{{HĐND}}}
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: {{{UBND}}}
Bí thư Huyện ủy: {{{HU}}}
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở: 0383 904 233
Số fax trụ sở: 0383 904 233
Website: nghiadan.gov.vn


Nghĩa Đàn là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, nằm phía bắc của tỉnh, cách thành phố Vinh chừng 95 km, giáp các huyện Quỳnh Lưu, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, thị xã Thái Hòa và huyện Như Xuân thuộc tỉnh Thanh Hóa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa Đàn là huyện trung du miền núi nằm về phía Bắc - Tây Bắc của tỉnh Nghệ An. Nơi đây là cái nôi của người Việt cổ, là vùng có vị trí kinh tế và quốc phòng quan trọng. Nghĩa Đàn nổi tiếng bởi vùng đất đỏ Phủ Quỳ và truyền thống yêu nước, sư gắn bó thủy chung với quê hương xứ sở của nhân dân các dân tộc Nghĩa Đàn. Nghĩa Đàn là vùng vùng quê giàu truyền thống cách mạng và có bề dày lịch sử. Tính từ năm Minh Mệnh thứ 21 (năm 1840) huyện Nghĩa Đàn được chia ra từ phủ Quỳ Châu, gồm huyện Trung Sơn (Quế Phong) và Thuý Vân (gồm phần lớn đất Quỳ Châu và Quỳ Hợp ngày nay) đã trải qua 170 năm. Nhưng nếu tính từ năm danh tính Nghĩa Đàn xuất hiện trong hệ thống bộ máy nhà nước đến nay là 125 năm lịch sử - kể từ năm 1885, vua Đồng Khánh - vì sự huý kỵ nên đổi tên Nghĩa Đường thành Nghĩa Đàn. Và tên gọi huyện Nghĩa Đàn có từ đó. Như vậy, huyện Nghĩa Đàn có tên gọi từ năm 1885. Và đến ngày 15/11/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2007/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Nghĩa Đàn để thành lập thị xã Thái Hoà.

Vùng đất Nghĩa Đàn dù đã trải qua nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính nhưng ở bất cứ hoàn cảnh nào, thời kỳ nào vẫn luôn là trung tâm của vùng núi phía Tây Bắc, đất đai màu mỡ, khí hậu tốt tươi, giao thương thuận lợi. Từ cái nôi của người Việt cổ đến các thế hệ người Thanh, người Thái, người Thổ và người Kinh chung sống trong cộng đồng hoà thuận. Và trong lịch sử đấu tranh để sinh tồn và phát triển dài lâu ấy người dân Nghĩa Đàn đã hun đúc nên truyền thống tốt đẹp: yêu nước và không chịu khuất phụ trước cường quyền và xâm lăng; truyền thống đoàn kết chung lưng đấu cật; nhân ái thủy chung; cần cù chịu thương chịu khó và sáng tạo trong lao động sản xuất, trong phát triển kinh tế và làm nên một đời sống văn hoá đa dạng và đậm bản sắc Nghĩa Đàn. Làm nên một Nghĩa Đàn "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Nghĩa Đàn là một huyện miền núi, 1 trong 20 đơn vị hành chính của tỉnh Nghệ An, nằm trong vùng sinh thái phía Bắc tỉnh, cách thành phố Vinh 95 km về phía Tây Bắc. Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 61.775,35 ha. Nghĩa Đàn có vị trí kinh tế - chính trị - an ninh - quốc phòng quan trọng, được coi là trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội của cụm 4 huyện vùng Tây Bắc tỉnh Nghệ An.

Vị trí địa lý của huyện nằm trên tọa độ từ 19013' - 19033' vĩ độ Bắc và 105018' - 105035' kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp huyện Tân Kỳ, phía Đông giáp huyện Quỳnh Lưu, phía Tây giáp huyện Quỳ Hợp.

Huyện Nghĩa Đàn gồm thị trấn Nghĩa Đàn và 25 xã (Đông Hiếu, Nghĩa Lộc, Nghĩa Long, Nghĩa Đức, Nghĩa Khánh, Nghĩa An, Nghĩa Sơn, Nghĩa Minh, Nghĩa Mai, Nghĩa Hồng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Tân, Nghĩa Liên, Nghĩa Hưng, Nghĩa Trung, Nghĩa Hội, Nghĩa Thọ, Nghĩa Bình, Nghĩa Phú, Nghĩa Lợi, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lâm, Nghĩa Yên, Nghĩa Thắng, Nghĩa Hiếu).

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa Đàn là một huyện có điều kiện địa hình khá thuận lợi so với các huyện trung du miền núi trong tỉnh. Đồi núi không quá cao, chủ yếu là thấp và thoải dần, bao quanh huyện từ phía Tây sang phía Bắc, Đông và Đông Nam là những dãy núi tương đối cao. Một số đỉnh có độ cao từ 300 đến 400 m như: Dãy Chuột Bạch, dãy Bồ Bố, dãy Cột Cờ,...

Khu vực phía Tây Nam và phần lớn các xã trong huyện là đồi thoải. Xen kẽ giữa các đồi núi thoải là những thung lũng có độ cao trung bình từ 50 - 70m so với mực nước biển.

Địa hình toàn huyện được phân bố như sau: - Diện tích đồi núi thoải chiếm 65% - Đồng bằng thung lũng chiếm 8% - Đồi núi cao chiếm 27%.

Ngoài ra, do đặc điểm kiến tạo của địa hình, Nghĩa Đàn còn có những vùng đất tương đối bằng phẳng, có quy mô diện tích lớn, đồi núi thấp thoải là điều kiện thuận lợi để phát triển một nền nông - lâm nghiệp phong phú.

Thời tiết, khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23 độ C, cao nhất là 41,6 độ C, thấp nhất xuống tới 2 độ C.

- Lượng mưa trung bình năm là 1.591,7 mm, phân bố không đồng đều trong năm. Mưa tập trung vào các tháng 8, 9 và 10 gây úng lụt ở các vùng thấp dọc sông Hiếu. Mùa khô lượng mưa không đáng kể do đó hạn hán kéo dài, có năm tới 2 đến 3 tháng.

- Rét: Trong vụ Đông Xuân, song hành với hạn là rét, số ngày có nhiệt độ dưới 15 độ C là trên 30 ngày, ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng và các hoạt động sản xuất.

Ngoài ra gió Lào, bão, lốc, sương muối cũng gây tác hại không nhỏ cho nhiều loại cây trồng hàng năm của huyện.

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên đất[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 61.775,35 ha với 15 loại đất thuộc 4 nhóm theo nguồn gốc phát sinh.

1. Nhóm đất phù sa

1.1. Đất phù sa được bồi hàng năm chua (Pbc) Phân bố dọc hai bên sông Hiếu. Hàng năm về mùa mưa thường được bồi đắp một lớp phù sa mới dày từ 2 – 10 cm. Hình thái phẫu diện thường có màu nâu hoặc nâu vàng, phân lớp rõ theo thành phần cơ giới. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất ít chua pHKCl: 5,17 - 5,24 ở tầng đất mặt. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số nghèo ở tầng đất mặt (tương ứng < 1,0% và 0,1%), xuống sâu các tầng dưới hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số rất nghèo. Lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo đến trung bình ở lớp đất mặt. Kali tổng số trung bình, kali dễ tiêu nghèo. Tổng cation trao đổi thấp. Dung tích hấp thu (CEC) thấp < 10 lđl/100g đất. Lượng Fe3+ trong các tầng đất cao. Thành phần cơ giới thường là thịt nhẹ, cấu tượng đất tốt. Đất phù sa được bồi hàng năm tuy nghèo các chất tổng số và dễ tiêu, song lại thích hợp với trồng các loại cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Để đảm bảo nâng cao năng suất cây trồng cần phải tăng cường bón phân hữu cơ để cải thiện hàm lượng hữu cơ trong đất. Khi bón các loại phân vô cơ nên bón làm nhiều lần để tăng hiệu lực của phân bón.

1.2. Đất phù sa không được bồi chua (Pc)

Là loại đất trước đây cũng được bồi đắp phù sa, song chịu tác động của yếu tố địa hình đặc biệt là quá trình đắp đê ngăn lũ nên lâu nay không được bồi đắp thêm phù sa mới nữa. Nơi có địa hình tương đối cao, thoát nước tốt, thoáng, đất không có gley, nơi địa hình thấp thường có gley yếu. Hình thái phẫu diện có sự phân hoá rõ: lớp đất canh tác thường có màu nâu xám hoặc xám vàng, lớp đế cày có màu xám hơi xanh hoặc vàng nhạt, các lớp dưới có màu vàng nâu lẫn vệt đỏ. Thành phần cơ giới của đất từ thịt nhẹ đến thịt trung bình tuỳ thuộc vào địa hình.

Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất chua (pHKCl: 4,41 ở tầng mặt) và ít có sự thay đổi giữa các tầng. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số nghèo. Lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Kali tổng số và dễ tiêu rất nghèo. Lượng canxi và magiê trao đổi rất thấp. Dung tích hấp thu (CEC) thấp. Hàm lượng Fe3+ đạt 54,38 mg/100g đất ở tầng mặt và có xu hướng giảm theo chiều sâu. Al3+ đạt 0,48 lđl/100g đất ở tầng mặt và tăng dần theo chiều sâu phẫu diện. Hiện tại loại đất này đang được trồng các loại cây hoa màu lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày như: lúa, ngô, khoai, lạc, mía... Hướng sử dụng: đối với vùng đất chân vàn có điều kiện tưới tiêu nên trồng 2 vụ lúa/năm theo hướng thâm canh. Nơi đất ở địa hình cao không chủ động nước tưới nên trồng cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày hoặc luân canh lúa màu. Trong quá trình canh tác cần chú ý bón vôi cải tạo độ chua, tăng cường bón phân hữu cơ và các loại phân khoáng để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho cây, đồng thời nâng cao độ phì cho đất.

1.3. Đất phù sa ngòi suối (Py)

Đất được hình thành do sự vận chuyển các sản phẩm phù sa không xa, cộng thêm với những sản phẩm từ trên đồi núi đưa xuống, do đó sản phẩm tuyển lựa không đều mang ảnh hưởng rõ của đất và sản phẩm phong hoá của các loại đá mẹ vùng đồi, núi xung quanh. Hình thái phẫu diện phân hoá khá rõ, có đôi chỗ xuất hiện kết von non. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất chua (pHKCl: 4,8 ở tầng mặt). Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt nghèo (tương ứng là 1,05% và 0,095%), ở các tầng dưới hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số rất nghèo. Lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo. Kali tổng số và dễ tiêu nghèo. Lượng các cation trao đổi thấp. Hàm lượng Fe3+ và Al3+ tương đối cao. Thành phần cơ giới của đất nhẹ. Đây là loại đất có độ phì tự nhiên thấp, song lại thích hợp với trồng các loại cây hoa màu lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày như ngô, khoai, đậu, vừng, lạc. Để nâng cao năng suất cây trồng, đồng thời nâng cao độ phì cho đất cần: - Đắp bờ khoanh vùng giữ nước, chống rửa trôi bề mặt, xây dựng hồ chứa nước, đập nước đảm bảo nước tưới cho cây trồng. - Tăng cường bón nhiều phân hữu cơ để tăng chất dinh dưỡng cho đất. - Chọn các công thức luân canh cây trồng hợp lý nhất là luân canh các loại cây họ đậu.

2. Nhóm đất đen

2.1. Đất đen trên tuf và tro núi lửa (R) Chiếm diện tích không đáng kể. Phân bố ở chân miệng núi lửa vùng Phủ Quỳ như Hòn Mư (nông trường 1 - 5). Đá bọt núi lửa có nhiều chất kiềm phong hoá nhanh, đất thường có màu thẫm, nhiều sét, lẫn nhiều đá bọt màu đen, đất ẩm, rất dính dẻo, khi khô lại rất cứng. Đất có phản ứng ít chua ở lớp trên, trung tính ở lớp dưới. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số rất giàu. Lân dễ tiêu nghèo (< 5 mg/100g đất). Kali dễ tiêu khá (đạt 20 mg/100g đất ở lớp đất mặt). Tỷ lệ Ca2+ trong cation trao đổi rất cao. Loại đất này có độ phì nhiêu khá, cấu tượng đất tơi xốp. Hướng sử dụng: đất này nên trồng các loại cây hoa màu lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Trong quá trình canh tác cần có biện pháp giữ ẩm cho đất.

2.2. Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan (Rk)

Đất được hình thành do sự bồi tụ của các sản phẩm phong hoá của đá bazan. Địa hình thấp thường là thung lũng ven chân đồi, nhiều nơi trồng lúa nước. Hình thái phẫu diện tầng đất mặt thường có màu xám đen, ở các lớp dưới có màu đen hơi xanh, khi ướt đất dẻo dính, khi khô mặt đất thường nứt nẻ. Thành phần cơ giới của đất nặng (thịt nặng đến sét), tỷ lệ sét vật lý cao từ 70 – 80%. Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan có phản ứng trung tính ít chua pHKCl từ 6,0 - 6,4 ở tầng mặt, các tầng dưới pHKCl có hướng thấp hơn. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở tầng đất mặt giàu (tương ứng trong khoảng 3,65 - 4,05% và 0,19 - 0,23%), xuống các tầng dưới hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số giảm nhanh. Lân tổng số từ trung bình đến giàu (0,08 - 0,18%). Lân dễ tiêu nghèo (5 – 10 mg/100g đất). Kali tổng số trung bình (0,5 - 1,0%), kali dễ tiêu từ trung bình đến giàu. Tỷ lệ Ca2+/Mg2+ > 1 chứng tỏ canxi trao đổi chiếm ưu thế hơn so với magiê. Nhìn chung đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan có độ phì khá, các chất tổng số khá, các chất dễ tiêu từ nghèo đến giàu. Hướng sử dụng: do đặc điểm phân bố và tính chất đất nên sử dụng trồng lúa nước. Để tăng năng suất lúa cần chú ý các giải pháp đầu tư thuỷ lợi đảm bảo nước cho cây trong suốt thời kỳ sinh trưởng, phát triển.

2.3. Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của cacbonat (Rdv)

hình thành trong tình trạng thoát nước yếu, nước mạch chứa nhiều canxi và magiê cung cấp cho đất. Hình thái phẫu diện đất có màu đen hoặc xám đen, thường có kết von canxi đường kính 3 - 6mm. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất trung tính ít chua (pHKCl 5,57 ở lớp đất mặt) và có xu hướng tăng theo chiều sâu phẫu diện đất. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở tầng đất mặt giàu (tương ứng là 2,25% và 0,179%), càng xuống sâu các tầng dưới hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số càng giảm. Lân tổng số ở lớp đất mặt giàu (0,112%), ở các tầng dưới từ nghèo đến trung bình. Lân dễ tiêu tầng đất mặt trung bình, các tầng dưới nghèo. Kali tổng số và dễ tiêu trung bình. Lượng canxi và magiê trao đổi trong đất rất cao, đặc biệt canxi trao đổi > 20 lđl/100g đất. Dung tích hấp thu (CEC) rất cao. Hàm lượng Fe3+ và Al3+ trong đất rất thấp. Thành phần cơ giới của đất nặng nên khả năng giữ nước giữ phân bón tốt. Loại đất có độ phì nhiêu khá, thích hợp với trồng các loại cây hoa màu lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Nơi đất cao trồng mía, bông. Tăng cường bón nhiều phân hữu cơ để cải tạo thành phần cơ giới làm tăng độ tơi xốp cho đất.

3. Nhóm đất đỏ vàng

3.1. Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính (Fk)

Đất nâu đỏ bazan phát triển trên các đồi dốc thoải, ở độ cao 25 – 150m, vùng đất này bị cách quãng bởi những dải phiến thạch sét, đá cát, đá vôi. Đất phần lớn có tầng dày, có khi đến hàng chục mét. Tuy vậy cũng có nơi mới đào sâu 40–50 cm đã gặp đá mẹ đang phong hoá, có nơi đá bazan nổi lên mặt đất (khu vực Bà Triệu Nông trường 19-5). Hình thái phẫu diện đất thường có màu nâu đỏ sẫm, phẫu diện tương đối đồng nhất. Đất có độ xốp lớn trung bình là 65%, xuống các lớp dưới độ xốp lớn hơn lớp trên, khả năng thấm nước của đất nhanh. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất chua (pHKCl: 4,21-4,40 ở tầng mặt), lớp đất mặt thường chua hơn lớp dưới. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt khá (tương ứng là 2,14-2,42% và 0,128-0,140%), xuống sâu các tầng dưới hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số giảm từ từ. Lân tổng số giàu (0,135 – 0,233% ở tầng đất mặt), lân dễ tiêu nghèo ở tất cả các tầng đất (< 5 mg/100g đất). Kali tổng số và dễ tiêu trong đất nghèo. Lượng canxi và magiê trao đổi thấp, canxi trao đổi chiếm ưu thế hơn so với magiê. Dung tích hấp thu (CEC) thấp dao động từ 9,98 – 11,32 lđl/100g đất ở tầng đất mặt. Hàm lượng Fe3+ dao động trong khoảng từ 45 – 93 mg/100g đất ở các tầng đất, Al3+ dao động từ 0,44 – 0,72 lđl/100g đất. Thành phần cơ giới của đất nặng, tỷ lệ sét vật lý chiếm khoảng trên dưới 70%, khả năng giữ nước giữ phân bón rất tốt. Đây là loại đất có đặc tính lý hoá học tốt, rất thích hợp với trồng cây lâu năm như: cà phê, cao su và các loại cây ăn quả. Hướng sử dụng: trồng các loại cây công nghiệp lâu năm và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Cần chú ý các biện pháp chống hạn, chống bốc hơi như trồng cây phủ đất, giữ nguồn nước... Bón vôi khử chua, tăng cường bón phân hữu cơ và các loại phân khoáng để nâng cao độ phì cho đất, áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý nhằm hạn chế xói mòn rửa trôi đất vào mùa mưa.

3.2. Đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv)g

Đất đỏ nâu được hình thành trên sản phẩm phong hoá của đá vôi. Hình thái phẫu diện đất thường có màu nâu đỏ là chủ đạo, lớp đất mặt thường có màu nâu thẫm hoặc xám đen. Cấu trúc lớp đất mặt viên hoặc cục nhỏ, độ tơi xốp của đất khá. Kết quả phân tích cho thấy: đất đỏ nâu có phản ứng ít chua (pHKCl: 5,45 ở tầng mặt). Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt trung bình (tương ứng là 2,14% và 0,123%), xuống sâu các tầng dưới hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số giảm đột ngột. Lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo. Kali tổng số và dễ tiêu nghèo. Tổng số cation trao đổi trung bình, trong đó canxi trao đổi cao gấp nhiều lần so với magiê. Dung tích hấp thu (CEC) đạt >10 lđl/100g đất ở các tầng đất. Hàm lượng Fe3+ đạt 37,54 mg/100g đất ở tầng mặt, lượng Al3+ ở tầng cuối cao hơn nhiều lần so với các tầng trên. Thành phần cơ giới lớp đất mặt thường là thịt trung bình, ở các tầng dưới thường là thịt nặng đến sét. Tỷ lệ sét tăng theo chiều sâu của phẫu diện đất. Đây là loại đất có độ phì khá, địa hình thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Hướng sử dụng: đối với vùng đất có độ dốc 0-3o nên trồng cây hoa màu lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Đối với vùng đất có độ dốc từ 3-20o nên ưu tiên trồng cây lâu năm như cà phê, cam, quýt, bưởi... Vùng đất có độ dốc 20-25o nên sử dụng theo hướng nông lâm kết hợp. Trong quá trình canh tác cần đặc biệt chú ý giữ ẩm cho đất nhất là mùa khô hanh. Tăng chường bón phân hữu cơ, trồng cây phân xanh. Bón thêm lân và kali để đảm bảo dinh dưỡng cho cây trồng, đồng thời bổ sung lân, kali cho đất.

3.3. Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fj)

Đất được hình thành trên sản phẩm phong hoá của đá biến chất (philit, phiến thạch mica, gơnai). Hình thái phẫu diện đất thường có màu đỏ vàng là chủ đạo, lớp mặt thường có màu nâu xám hoặc nâu vàng. Cấu trúc lớp đất mặt thường là viên hoặc cục nhỏ. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất chua (pHKCl: 4,57 ở tầng đất mặt). Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt trung bình (tương ứng là 1,65% và 0,106%), xuống sâu các tầng dưới hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số giảm. Lân tổng số và dễ tiêu ở lớp đất mặt trung bình, ở các tầng dưới lân tổng số và dễ tiêu nghèo. Tổng lượng cation trao đổi thấp, canxi trao đổi chiếm ưu thế hơn so với magiê. Dung tích hấp thu (CEC) ở tầng mặt trung bình: 11,70 lđl/100g đất, ở các tầng dưới dung tích hấp thu giảm. Thành phần cơ giới lớp đất mặt thường là thịt trung bình, các tầng dưới là thịt nặng hoặc sét. Tỷ lệ cấp hạt sét tăng theo chiều sâu phẫu diện đất. Đây là loại đất có độ phì trung bình thích hợp với trồng các loại cây lâu năm. Hướng sử dụng: tuỳ theo cấp độ dốc và độ dày tầng đất, bố trí các loại cây trồng cho phù hợp - Đối với vùng đất có độ dốc 0-3o nên ưu tiên trồng các loại cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày như: ngô, mía. - Đối với vùng đất có độ dốc từ 3-15o nên trồng các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. - Đối với vùng đất có độ dốc 15-25o nên sử dụng theo phương thức canh tác nông lâm kết hợp. - Đối với vùng đất có độ dốc trên 25o nên khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng.

3.4. Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs)

Đất được hình thành trên sản phẩm phong hoá của đá mẹ phiến sét. Hình thái phẫu diện đất có màu đỏ vàng, vàng đỏ là chủ đạo, lớp trên mặt có màu xám đen, nâu xám hoặc nâu vàng tuỳ thuộc vào thảm thực vật che phủ và mức độ tích luỹ hữu cơ. Cấu trúc lớp đất mặt thường là viên, độ tơi xốp khá. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất chua (pHKCl: 4,23-4.31 ở lớp đất mặt). Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt từ trung bình đến giàu (tương ứng là 1,65-3,51% và 0,106-0,190%), nơi nào còn thảm rừng nơi đó có sự tích luỹ hữu cơ cao. Lân tổng số ở lớp đất mặt trung bình, ở các tầng dưới từ nghèo đến trung bình. Kali tổng số lớp đất mặt từ 0,93-1,19%, ở các tầng dưới giàu. Kali dễ tiêu ở lớp đất mặt từ 7,3-11,2 mg/100g đất, ở các tầng dưới nghèo. Lượng canxi và magiê trao đổi rất thấp. Dung tích hấp thu rất thấp. Hàm lượng Fe3+ và Al3+ tương đối cao. Thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, khả năng giữ nước, giữ phân bón khá. Hiện tại loại đất này đang được trồng cây hoa màu và cây lâu năm. Hướng sử dụng: với vùng đất có độ dốc 0-3o nên trồng cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đất có độ dốc từ 3-15o nên trồng cây lâu năm. Vùng đất có độ dốc 15-25o sử dụng phương thức canh tác nông lâm kết hợp. Nơi đất dốc trên 25o nên khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng. Trong quá trình canh tác cần chú ý biện pháp chống xói mòn, rửa trôi đất.

3.5. Đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa)

Đất được hình thành trên sản phẩm phong hoá của đá macma axit (granit, riolit). Hình thái phẫu diện tầng đất mặt có màu xám, xám nâu hoặc xám vàng, các tầng dưới có màu vàng nhạt, vàng đỏ là chủ đạo. Cấu trúc của đất thường là viên hạt. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất chua toàn phẫu diện. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt nghèo (tương ứng là 1,15% và 0,084%), xuống sâu các tầng dưới hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số rất nghèo. Lân tổng số và dễ tiêu nghèo. Kali tổng số rất nghèo (0,33% ở tầng mặt), kali dễ tiêu nghèo. Lượng canxi và magiê trao đổi trong đất rất thấp. Dung tích hấp thu thấp dưới 10 lđl/100g đất ở tất cả các tầng đất. Hàm lượng Fe3+ và Al3+ tương đối cao. Thành phần cơ giới thường là thịt nhẹ, tỷ lệ sét vật lý dưới 30%, khả năng giữ nước, giữ phân bón kém. Đây là loại đất có độ phì nhiêu kém. Do đất phần lớn ở địa hình dốc nên sử dụng theo phương thức nông lâm kết hợp ở vùng đất có độ dốc từ 15 - 25o. Trong quá trình canh tác cần chú ý tăng cường bón phân hữu cơ và phân khoáng để nâng cao độ phì cho đất. áp dụng các biện pháp chống xói mòn, rửa trôi đất vào mùa mưa.

3.6. Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq)

Đất được hình thành trên sản phẩm phong hoá của đá cát. Hình thái phẫu diện tầng đất mặt có màu xám vàng hoặc xám nhạt, ở các tầng dưới màu sắc đất thay đổi từ màu vàng nhạt đến vàng đỏ. Cấu trúc của đất thường là hạt rời rạc. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất chua (pHKCl: 4,63 ở tầng đất mặt). Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt rất nghèo (tương ứng là 0,93% và 0,072%). Lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Kali tổng số lớp đất mặt ở lớp đất mặt nghèo, ở các tầng dưới trung bình. Kali dễ tiêu nghèo. Lượng cation trao đổi trong đất rất thấp. Thành phần cơ giới của đất nhẹ, tỷ lệ sét vật lý ở tầng đất mặt dưới 20% nên khả năng giữ nước, giữ phân bón kém. Nhìn chung loại đất này có độ dốc < 8o tầng đất dày hoặc trung bình có thể trồng cây hoa màu hoặc cây ăn quả (dứa). Đối với vùng đất dốc 8-15o có thể kết hợp trồng cây ăn quả với các loại cây lâm nghiệp. Nơi có độ dốc > 15o nên dành cho lâm nghiệp. Trong quá trình canh tác nên tăng cường bón nhiều phân hữu cơ và phân khoáng để cải thiện lý hoá tính của đất. Cần phải áp dụng các biện pháp chống xói mòn, rửa trôi đất.

3.7. Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp)

Đất được hình thành trên mẫu chất phù sa cổ, thường ở địa hình đồi lượn sóng có độ dốc dưới 15o. Hình thái phẫu diện thường có màu nâu vàng là chủ đạo, cấu trúc thường là viên hoặc cục nhỏ. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất chua (pHKCl: 4,64 ở tầng đất mặt). Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số nghèo. Lân tổng số và dễ tiêu rất nghèo. Kali tổng số trung bình ở tất cả các tầng. Kali dễ tiêu ở lớp đất mặt trung bình, ở các tầng dưới kali dễ tiêu rất nghèo. Lượng canxi và magiê trao đổi rất thấp, canxi trao đổi chiếm ưu thế hơn so với magiê. Dung tích hấp thu (CEC) rất thấp. Thành phần cơ giới lớp đất mặt là cát pha, xuống các tầng dưới là thịt trung bình. Hiện tại loại đất này đang được trồng cây hoa màu, cây ăn quả và trồng rừng. Hướng sử dụng: nơi nào đất có tầng dày trên 100 cm nên ưu tiên trồng cây ăn quả (cam, chanh). Nơi nào tầng trung bình nên trồng cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Nơi nào tầng đất mỏng, kết von nhiều nên trồng rừng.

3.8. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl)

Đây là loại đất được hình thành trên nền đất feralit trên các loại đá mẹ khác nhau như đá phiến sét, đá biến chất, đá cát… được con người khai phá thành ruộng bạc thang để trồng lúa nước. Dưới tác động của con người khai thác biến đất đồi núi thành ruộng bậc thang để trồng lúa nước hàng năm, đã làm thay đổi các tính chất lẫn hình thái phẫu diện. Hình thái phẫu diện thể hiện có tầng canh tác ở lớp mặt với độ sâu từ 12–20 cm, tiếp đến là tầng đất chặt (tầng đế cày) để giữ màu, giữ nước và phân bón ít bị rửa trôi xuống tầng dưới. Lớp thứ ba là lớp đất nền hoặc đã biến đổi (có gley, kết von, tích luỹ sắt) tuỳ theo thời gian mới khai thác hay sử dụng lâu năm. Kết quả phân tích cho thấy: phản ứng của đất chua (pHKCl: 4,42 ở lớp đất mặt). Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt trung bình (tương ứng là 1,32% và 0,101%), càng xuống sâu các tầng dưới hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số càng giảm. Lân tổng số ở lớp đất mặt trung bình (0,061%), ở các tầng dưới nghèo. Lân dễ tiêu rất nghèo ở các tầng đất. Kali tổng số trung bình, kali dễ tiêu nghèo. Lượng canxi và magiê trao đổi rất thấp. Dung tích hấp thu (CEC) thấp 8,2 lđl/100g đất ở tầng mặt và có xu hướng tăng theo chiều sâu của phẫu diện. Thành phần cơ giới lớp đất mặt thường là thịt trung bình tỷ lệ sét vật lý dao động trong khoảng 30-40%. Hướng sử dụng: ở những nơi chủ động được nước tưới nên cấy 2 vụ lúa/năm. Những nơi không chủ động được nước tưới nên luân canh lúa màu. Trong quá trình canh tác cần chú ý bón vôi cải tạo độ chua, tăng cường bón phân hữu cơ, bón lân và kali để đảm bảo dinh dưỡng cho cây trồng.

4. Nhóm đất thung lũng

Nhóm đất thung lũng có 1 loại đất là đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ Đất được hình thành do các sản phẩm phong hoá từ trên đồi núi bị nước mưa cuốn trôi xuống lắng đọng ở những thung lũng nhỏ dưới chân đồi núi. Các thung lũng bao bọc bởi những dãy đồi núi có đá mẹ là sa thạch, granit, riolit sản phẩm dốc tụ là cát có cả những mảnh đá mẹ đang phong hoá và mảnh thạch anh sắc cạnh. Những nơi có đá mẹ là phiến sét, đá biến chất, bazan thì sản phẩm dốc tụ có hạt mịn hơn. Rất nhiều trường hợp sản phẩm dốc tụ không dày quá 60 – 70 cm. Hình thái phẫu diện lớp trên mặt thường có màu xám trắng, các lớp dưới có màu xám vàng hoặc xám xanh. Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ có phản ứng chua (pHKCl: 4,0 - 4,6 ở tất cả các tầng đất). Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số từ nghèo đến trung bình. Lân tổng số nghèo (0,016 – 0,020%), lân dễ tiêu rất nghèo. Kali tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Lượng canxi và magiê trao đổi thấp, canxi trao đổi chiếm ưu thế hơn so với magiê. Thành phần cơ giới của đất thay đổi từ cát pha đến thịt trung bình hoặc nặng tuỳ thuộc vào sự tiếp nhận sản phẩm bồi tụ của từng vùng đất. Hiện tại loại đất này đang được sử dụng trồng lúa nước. Để đảm bảo tăng năng suất lúa cần chú ý bón vôi khử chua, tăng cường bón phân hữu cơ và các loại phân vô cơ. Đối với chân đất nhẹ nên bón đạm làm nhiều lần để tránh hiện tượng cây trồng sử dụng chưa hết sẽ bị rửa trôi.

Tóm lại: Nhóm đất phù sa phân bố tương đối tập trung nên đã sử dụng hầu hết để trồng cây lương thực, nhóm đất đen là những loại đất thích hợp để trồng các cây ăn quả có giá trị cao như cam, nhãn, mía nguyên liệu…Nhóm đất đỏ vàng và đất thung lũng phân bố đều khắp trên toàn huyện với nhiều loại đất trên nhiều dạng địa hình và độ cao khác nhau, thích nghi với nhiều loại cây công nghiệp, cây ăn quả. Đây là thế mạnh, là địa bàn lớn để phát triển lâu dài các ngành kinh tế của huyện.

Tài nguyên rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo kết quả điều tra năm 2010, tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 22.674,29 ha chiếm 36,7% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện, trong đó:

- Rừng sản xuất: có diện tích là 18.450,45 ha, chiếm 81,37% diện tích đất lâm nghiệp của huyện.

- Rừng phòng hộ: có diện tích 4.223,84 ha, chiếm 18,63% diện tích đất lâm nghiệp của huyện.

Nghĩa Đàn là huyện miền núi tuy nhiên tài nguyên rừng không phải lả thế mạnh của huyện, độ che phủ rừng chỉ đạt khoảng 33,70%. Phần lớn là rừng phục hồi và rừng nghèo không có rừng giàu nên trữ lượng gỗ, tre, nứa của huyện thấp hơn so với nhiều huyện khác trong địa bàn tỉnh.

Tài nguyên khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên khoáng sản ở Nghĩa Đàn có các loại sau:

- Đá bọt Bazan (làm nguyên liệu phụ gia cho xi măng và xay nghiền đá Puzơlan) phân bố ở các xã Nghĩa Mai, Nghĩa Sơn, Nghĩa Lâm…với trữ lượng khoảng 70-100 triệu tấn.

- Mỏ sét ở Nghĩa An, Nghĩa Liên, Nghĩa Lộc, Nghĩa Hồng trữ lượng ít chỉ khoảng trên 1 triệu m3.

- Mỏ đá vôi ở Nghĩa Tân, Nghĩa Hiếu trữ lượng khoảng 45 triệu m3.

- Mỏ đá xây dựng ở Nghĩa Tân, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Trung, Nghĩa Đức...

- Vàng sa khoáng ở Sông Hiếu.

- Mỏ than ở Nghĩa Thịnh.

Các loại khoáng sản trên đều chưa được khảo sát chất lượng, trữ lượng cụ thể và thực tế khai thác chưa đáng kể.

Nhìn chung tiềm năng khoáng sản ở Nghĩa Đàn tuy không nhiều như một số huyện khác nhưng nếu được khai thác hợp lý sẽ có tác động nhất định đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong ky quy hoạch.

Thuỷ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa Đàn nằm trong lưu vực sông Hiếu, là nhánh sông lớn nhất của hệ thống sông Cả, bắt nguồn từ biên giới Việt – Lào, qua Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp về Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, gặp sông Cả tại Cây Chanh (huyện Anh Sơn). Sông Hiếu có chiều dài 217 km, đoạn chạy qua Nghĩa Đàn dài 44 km (từ ngã ba Dinh đến Khe Đá).

Ngoài sông Hiếu, Nghĩa Đàn còn 48 chi lưu lớn nhỏ. Trong đó có 5 nhánh chính:

+ Sông Sào: Bắt nguồn từ vùng núi Như Xuân -Thanh Hoá qua các xã Nghĩa Sơn, Nghĩa Lâm, Nghĩa Trung, Nghĩa Bình (dài 34 km), trong lưu vực sông có nhiều hồ đập lớn nhỏ. Đặc biệt là công trình thuỷ lợi Sông Sào với diện tích lưu vực 160km2, dung tích hồ chứa từ 45 - 60 triệu m3 nước.

+ Khe Cái: Bắt nguồn từ vùng núi Quỳnh Tam chảy qua các xã Nghĩa Lộc, Nghĩa Long về sông Hiếu (dài 23 km).

+ Khe Ang: Bắt nguồn từ vùng núi Nghi Xuân - Thanh Hoá, chảy qua Nghĩa Mai, Nghĩa Hồng, Nghĩa Thịnh ra sông Hiếu (dài 23 km).

+ Khe Diên: Bắt nguồn từ Thanh Hoá qua Nghĩa Yên, Nghĩa Thịnh về Sông Hiếu (dài 16 km).

+ Khe Đá: Bắt nguồn từ vùng núi Tân Kỳ qua Nghĩa An, Nghĩa Đức, Nghĩa Khánh chảy vào sông Hiếu (dài 17 km).

Đặc điểm của khe suối huyện Nghĩa Đàn, nói chung về mùa mưa giao thông đi lại hết sức khó khăn do phải đi qua nhiều tràn, ngầm bị ngập nước gây ách tắc có khi đến 5 - 7 ngày.

Tài nguyên nước[sửa | sửa mã nguồn]

Bao gồm nguồn nước mặt và nước ngầm:

- Nguồn nước mặt: Nghĩa Đàn nằm trong lưu vực sông Hiếu, là nhánh sông lớn của hệ thống Sông Cả, bắt nguồn từ biên giới Việt – Lào qua Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp vể Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, gặp sông Cả tại Cây Chanh (huyện Anh Sơn). Sông Hiếu dài 217 km, đoạn chạy qua huyện Nghĩa Đàn dài 44 km (từ ngã ba Dinh đến Khe Đá). Tổng diện tích lưu vực 5.032 km2. Cùng với Sông Hiếu còn có 48 sông suối lớn nhỏ, trong đó có 5 nhánh chính, đó là Sông Sào dài 34 km, Khe Cái dài 23 km, Khe Hang dài 23 km, Khe Diên dài 16 km, Khe Đá dài 17 km, các sông suối lớn nhỏ có nước quanh năm và địa hình thích hợp tạo cho Nghĩa Đàn nhiều thuận lợi trong công tác đầu tư xây dựng nhiều công trình thủy lợi, với trên 100 hồ đập lớn nhỏ có trữ lượng hàng trăm triệu m3. Trong đó có 2 công trình lớn là hồ Sông Sào và hồ Khe Đá. Với lợi thế về nguồn nước mặt tạo cho Nghĩa Đàn có thế mạnh triển kinh tế nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và là cơ sở cho việc xây dựng vùng du lịch sinh thái sau trong tương lai.

- Nguồn nước ngầm: Cho đến nay, chưa có tài liệu nào đánh giá chính thức về nguồn nước ngầm huyện Nghĩa Đàn nhưng qua thực tế cho thấy mạch nước ngầm ở Nghĩa Đàn tương đối sâu và có nhiều tạp chất của khoáng vật. Khả năng khai thác nguồn nước ngầm phục vụ các ngành sản xuất là rất khó khăn.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng dân số tính đến ngày 01/01/2009 là 28.772 hộ, 131.134 người chiếm gần 2,20% dân số toàn tỉnh và 100% là dân cư nông thôn. Trong đó nữ có 67.054 người (chiếm 51,13%). Dân số trong khối nông nghiệp 121.347 người, chiếm 92,54%, dân số trong khối phi nông nghiệp 9.787 người, chiếm 7,46% dân số toàn huyện.

Nghĩa Đàn có 24 xã, trong đó trước đây có 9 xã nghèo thuộc diện đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135, đến nay còn 4 xã; Nghĩa Lạc, Nghĩa Thọ, Nghĩa Mai và Nghĩa Lợi.

Mật độ bình quân toàn huyện là: 212 người/km2

Xã có mật độ dân cư lớn nhất là xã Nghĩa Trung: 350 người/km2

Xã có mật độ dân cư nhỏ nhất là xã Nghĩa Mai: 58 người/km2

Dân số Nghĩa Đàn được định cư tương đối ổn định trên toàn huyện, bao gồm 3 dân tộc cùng chung sống là Kinh, Thái, Thổ. Trong đó dân tộc Kinh chiếm tới 70,6% dân số toàn huyện.

Từ bao đời nay, giữa người theo đạo và không theo đạo, người dân tộc Kinh, Thái hay Thổ, tuy có tín ngưỡng và bản sắc dân tộc riêng, nhưng luôn luôn là một cộng đồng đoàn kết, thân ái bên nhau trong lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là nét đặc trưng hiếm có trong quan niệm sống của người dân Nghĩa Đàn.

Lao động và đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện có 81.023 lao động trong độ tuổi (chiếm 61,79% dân số chung), trong đó lực lượng lao động chính 75.295 người. Lao động trong các ngành kinh tế quốc doanh là 70.124 người, chiếm 93,13% dân số. Trong đó:

động công nghiệp – xây dựng là 9.020 người, chiếm 12,86%

Lao động nông – lâm – thủy sản 58.276 người, chiếm 83,1%

Lao động dịch vụ 2.828 người, chiếm 4,03%

Tổng số lao động đã qua đào tạo 7.652 người, chiếm 10,16%

Lao động thất nghiệp 625 người, chiếm 0,83%

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,91%

Số lao động được tạo việc làm 3.000 người

Số trường đạt chuẩn quốc gia là 08 trường

Tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 69,3%

Tỷ lệ hộ đói nghèo đảm bảo 18%

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 18,5%

Số trạm xá có bác sỹ 24/24 xã

Xã chuẩn quốc gia về y tế là 5 xã

Tỷ lệ hộ gia đình dùng nước hợp vệ sinh đạt 80%

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm thị trấn Nghĩa Đàn và 24 xã:


Trước khi thành lập huyện Tân Kỳ, huyện Nghĩa Đàn có 37 xã: Nghĩa Quang, Nghĩa Hòa, Nghĩa Tiến, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Thuận, Nghĩa Bình, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng, Nghĩa Hội, Nghĩa Trung, Nghĩa Liên, Nghĩa Mai, Nghĩa Yên, Nghĩa Minh, Nghĩa Lâm, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lợi, Nghĩa Thọ, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Tân, Nghĩa Sơn, Nghĩa Hồng, Nghĩa Phú, Nghĩa Long, Nghĩa Lộc, Nghĩa An, Nghĩa Khánh, Nghĩa Đức, Nghĩa Bình, Nghĩa Thái, Nghĩa Đồng, Nghĩa Hợp, Nghĩa Phúc, Nghĩa Hoàn, Nghĩa Dũng, Nghĩa Hành.

Trước ngày 15 tháng 11 năm 2007, huyện Nghĩa Đàn có 1 thị trấn Thái Hòa và 31 xã: Nghĩa Quang, Nghĩa Hòa, Nghĩa Tiến, Nghĩa Mỹ, Tây Hiếu, Đông Hiếu, Nghĩa Thuận, Nghĩa Bình, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng, Nghĩa Hội, Nghĩa Trung, Nghĩa Liên Nghĩa Mai, Nghĩa Yên, Nghĩa Minh, Nghĩa Lâm, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lợi, Nghĩa Thọ, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Tân, Nghĩa Sơn, Nghĩa Hồng, Nghĩa Phú, Nghĩa Long, Nghĩa Lộc, Nghĩa An, Nghĩa Khánh, Nghĩa Đức.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm gần đây công tác văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình đang từng bước được kiện toàn. Hệ thống cơ sở vật chất ở các làng, thôn, bản, xóm được các cấp lãnh đạo quan tâm như xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, trang bị hệ thống phát thanh. Tỷ lệ gia đình văn hóa ước đạt 69,3%, tỷ lệ xã có thiết chế văn hóa đạt chuẩn quốc gia ước đạt 29%. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, các hoạt động văn hóa phục vụ các ngày lễ lớn, lễ kỷ niệm. Thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, công tác dân số, gia đình và trẻ em thường xuyên được quan tâm và có nhiều tiến bộ. Toàn huyện cũ trước đây có hệ thống cơ sở y tế khá đầy đủ từ tuyến huyện đến xã. Bao gồm 2 bệnh viện huyện và khu vực, 32 trạm y tế xã. Sau khi thành lập thị xã Thái Hòa, huyện Nghĩa Đàn chỉ còn 24 trạm y tế xã đều là nhà cấp 4, được xây dựng từ năm 1997 – 1998, nay đã xuống cấp.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống trường học của huyện ngày càng được cấp ủy, chính quyền từ huyện đến xã quan tâm xây dựng, đến nay sau khi tách còn hai trường PTTH 1/5 và thpt Cờ Đỏ được xây dựng kiên cố (xã Nghĩa Hồng và Nghĩa Bình). Có 20 xã có 21 trường Trung học cơ sở (riêng xã Nghĩa Lộc có 2 trường; 4 xã không có là xã Nghĩa Tân, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Thọ, Nghĩa Sơn), trường tiểu học và trường mầm non được xây dựng kiên cố, trong đó có 12 trường tiểu học và 2 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.

Trong năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, ủy ban nhân dân huyện và sự chỉ đạo trực tiếp của phòng Giáo dục huyện Nghĩa Đàn, ngành giáo dục huyện đã vượt qua mọi khó khăn, thực hiện nghiêm túc các nội dung chương trình dạy và học tại các cấp học, làm tốt công tác thi đua, thực sự quan tâm chỉ đạo giáo viên đổi mới chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy, chất lượng giáo dục đào tạo ngày càng được nâng cao. Các trang thiết bị và cơ sở hạ tầng ngày càng được đầu tư, nâng cấp đã đáp ứng tốt nhu cầu học tập của học sinh trong huyện.

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Thực hiện phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hoạt động thể dục thể thao trên địa bàn huyện đang từng bước có những phát triển mới, phong trào thể dục thể thao đang hoạt động hết sức sôi nổi. Tỷ lệ người tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên tăng từ 22,9% năm 2008 lên 24,9% năm 2009 và đạt 30% năm 2010. Hoạt động thể thao chuyên nghiệp đạt được thành tích cao như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông…Cơ sở vật chất của ngành ngày càng được củng cố 24/24 xã có sân thể thao.

An ninh, quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh trật tự được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ. Số vụ vi phạm kinh tế 6 vụ, vi phạm trật tự xã hội 44 vụ, vi phạm ma túy 13 vụ, tai nan giao thông giảm 7,14% so với cùng kỳ. Tổ chức tuyên truyền nội dung phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy và tệ nạn xã hội, tuyên truyền tập trung 141/310 xóm, tổ chức 53 buổi tuyên truyền phổ biến pháp luật về bạo lực gia đình, 276 tin phát trên đài phát thanh, truyền hình tại địa phương.

Tổ chức tiếp đón 98 quân dự bị do Lữ đoàn PB16-QK4 huấn luyện và 30 sỹ quan, chiến sỹ hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương.

Tổ chức công tác khám tuyển và giao quân năm 2010 có chất lượng và đảm bảo về quân số đạt 100% chỉ tiêu được giao. Xây dựng kế hoạch quốc phòng, quân sự địa phương, tổ chức ký kết phối hợp thực hiện nhiệm vụ Quốc phòng quân sự địa phương giữa BCH Quân sự huyện với các Ban – Ngành – Đoàn thể cấp huyện. Bố trí đủ trang thiết bị để đảm bảo công tác PCLB, PCCR và PCCN…Làm tốt công tác huấn luyện Dân quân tự vệ, Dự bị động viên cho các đối tượng. Chủ động nắm chắc địa bàn, phối hợp tuần tra giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, nhất là các ngày lễ, ngày tết.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

I. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Năm 2010, là năm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đánh dấu một mốc quan trọng trong kế hoạch hành động của toàn đảng, toàn dân trong huyện.

Cùng với xu thế phát triển chung của cả nước và của tỉnh Nghệ An, các chính sách mở cửa trong công cuộc cải cách kinh tế của Nghĩa Đàn đang từng bước ổn định và phát triển. Đến năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân của huyện đạt 11,27%, tổng giá trị sản xuất (giá cố định năm 1994) đạt 782.741 triệu đồng giảm 10,62% so với Nghị Quyết HĐND và tăng 14,05 so với cùng kỳ, trong đó:

+ Nông – lâm – ngư nghiệp đạt 439.878 triệu đồng tăng 10,92% so với Nghị Quyết HĐND và tăng 7,66% so vơi cùng kỳ.

+ Công nghiệp – TTCN – XDCB đạt 201.442 triệu đồng, giảm 23,48% so với Nghị Quyết HĐND và tăng 33,13% so với cùng kỳ.

+ Dịch vụ - Thương mại đạt 141.421 triệu đồng, giảm 34,53% so với Nghị Quyết HĐND và tăng 11,86% so với cùng kỳ.

Cơ cấu kinh tế năm 2010 của huyện như sau:

- Ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 66,05%.

- Ngành CN – TTCN – XDCB chiếm tỷ trọng 13,63%.

- Ngành thương mại – dịch vụ chiếm tỷ trọng 20,32%.

Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 21.000 triệu đồng, đạt 144% Nghị Quyết HĐND huyện giao

Giá trị sản xuất bình quân theo đầu người/năm đạt 16,4 triệu đồng

Tổng sản lượng lương thực đạt 35.320 tấn, giảm 10,04% so với Nghị Quyết HĐND và giảm 5,85% so với cùng kỳ

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,91%

Số lao động được tạo việc làm 3.000 người

Số trường đạt chuẩn quốc gia là 08 trường

Tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 69,3%

Tỷ lệ hộ đói nghèo đảm bảo 18%

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 18,5%

Số trạm xá có bác sỹ 24/24 xã

Xã chuẩn quốc gia về y tế là 5 xã

Tỷ lệ hộ gia đình dùng nước hợp vệ sinh đạt 80%

Tỷ lệ che phủ đạt 42,0%

Trong những năm qua, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện tương đối rõ và đúng hướng, nông nghiệp có xu hướng giảm, công nghiệp xây dựng và dịch vụ có chiều hướng tăng. Đây là sự chuyển dịch tích cực, đã khai thác tốt các lợi thế, góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững và phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá.

Ngành nông - lâm nghiệp giảm từ 75,65% năm 2008 xuống còn 71,78% năm 2009 và 66,05% năm 2010.

Ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 9,08% năm 2008 lên 10,97% năm 2009 và lên 13,63% năm 2010.

Ngành thương mại – dịch vụ tăng từ 15,27% năm 2008 lên 17,25% năm 2009 và lên 20,32% năm 2010.

II. Thực trạng phát triển các khu vực kinh tế

1. Khu vực kinh tế nông nghiệp

Những năm qua nông nghiệp của huyện đã có sự phát triển tích cực trên cơ sở chú trọng khai thác và phát huy lợi thế sinh thái nông nghiệp của vùng phía Tây Nghệ An, đất đai màu mỡ. Sản xuất nông nghiệp đã tạo được sự chuyển dịch quan trọng trong cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển hàng hoá. Diện tích trồng các cây lâu năm và cấy các giống lúa có chất lượng cao, quy mô gia súc, gia cầm, thuỷ sản đã có sự tăng trưởng đáng kể.

Đất nông nghiệp được sử dụng hợp lý và có hiệu quả hơn. Diện tích gieo trồng cây lương thực có xu hướng giảm dần, cây công nghiệp, cây lâu năm tăng lên. Đất đai được triển khai theo hướng mở rộng, thâm canh tăng năng suất cây trồng do vậy mà hiệu quả ngành nông nghiệp được nâng lên.

Năm 2010, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 66,05% cơ cấu kinh tế chung của toàn huyện. Tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt 5.794,6 ha tăng 1,86% so với cùng kỳ, tổng sản lượng năm 2010 đạt 35.320 tấn.

*Trồng trọt:

Năm 2010, diện tích gieo trồng lúa đạt 5.620 ha tăng 1,86% so với cùng kỳ. Trong đó:

+ Cây mía: Là loại cây nguyên liệu có thu nhập và hiệu quả kinh tế không cao so với các cây trồng khác nhưng lại dễ trồng thích hợp trên mọi loại đất; nếu đầu tư tốt thì năng suất cao, còn đầu tư thấp vẫn cho thu hoạch. Những năm trước đây nông dân chưa chú trọng đầu tư nhất là phân hữu cơ; trồng trên đất quy hoạch lâm nghiệp vì thế bị xói mòn, rửa trôi nghiêm trọng nên năng suất giảm sau 1 vụ trồng, năng suất bình quân chỉ đạt 50 tấn/ha nên tổng thu nhập của nông dân chưa cao. Nhưng gần đây Công ty liên doanh mía đường Nghệ An Tate & Lyle với thị trường đầu ra ổn định về giá cả, sản phẩm của nông dân luôn được Nhà máy tiêu thụ hết, chính sách phát triển vùng nguyên liệu, đội ngũ cán bộ nông vụ hoạt động có hiệu quả cho cây mía nên diện tích mía luôn ổn định giữ vững từ 8.000 - 10.000 ha/năm (Tuy nhiên có giai đoạn Công ty hợp tác không chặt với chính quyền địa phương nên đã bị mất cân đối về diện tích và quản lý nguyên liệu). Người nông dân vẫn chọn cây mía là cây trồng chính trong giai đoạn hiện nay. Diện tích mía trồng cả năm hiện còn 7.344 ha sản lượng đạt 396.576 tấn.

+ Cây cao su: Đây là loại cây dễ trồng, chịu hạn, dễ bị đổ gãy khi có bão nhưng khả năng tái sinh nhanh nhên có tác dụng phòng hộ cao, chu kỳ kinh tế dài, đầu tư không lớn nên diện tích đang dần mở rộng và ổn định. Thời điểm hiện tại giá mủ cao su tăng và cây cao su ngoài lấy mủ còn cho sản phẩm gỗ khi đã hết chu kỳ kinh doanh nên diện tích trồng cây cao su ngày càng được mở rộng. Nên đến năm 2010 diện tích trồng cao su trồng cả năm hiện còn 2.014 ha sản lượng đạt 2.060 tấn.

+ Cây cam: là loại cây cho thu nhập và hiệu quả kinh tế cao nhưng đòi hỏi đầu tư và kỹ thuật chăm sóc nhiều hơn các loại cây trồng khác. Mặt khác chỉ có thể trồng thích hợp trên đất phù sa cổ và đất đỏ Bazan, bên cạnh đó cây cam đã được trồng truyền thống ở Nghĩa Đàn, vì vậy nguồn sâu bệnh (nhất là bệnh Greening, tuyến trùng) luôn tồn tại và gây hại. Vì thế hiện tại cây cam chỉ có thể phát triển mở rộng ở khối Doanh nghiệp hoặc đất của nông dân cho Doanh nghiệp thuê hoặc hợp tác kinh doanh theo thoả thuận. Tính đến thời điểm hiện tại toàn huyện có 334 ha đất trồng cam cả năm sản lượng đạt 5.390 tấn.

+ Cây cà phê: trong thời gian qua được đầu tư vốn vay AFD của Tổng công ty cà phê nên diện tích tăng. Trong 3 năm trở lại đây giá cà phê trên thế giới và trong nước tăng mạnh làm cho ngành cà fê cũng phát triển theo. Tuy nhiên, do thời tiết hạn hán kéo dài, nguồn cung cấp nước không đủ đã ảnh hưởng đến sự đầu tư chăm sóc và sinh trưởng phát triển. Mặt khác khi đưa cây cà phê vào trồng tại các xã miền núi, chưa có kỹ thuật sản xuất cây công nghiệp dài ngày nên cơ bản bị thất thu. Hiện tại giá cà phê đã có lợi cho người sản xuất, nhưng nông dân không có khả năng đầu tư vốn chăm sóc và tưới (hầu hết phụ thuộc vào nước mưa tự nhiên) mà cây cà phê rất cần tưới ổn định vào giai đoạn ra hoa tháng 3 - 4, vì vậy đưa cây cà phê vào trồng tại khối địa phương trong giai đoạn vừa qua chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Năng suất của khối địa phương chỉ đạt 5,5 tấn/ ha. Tính đến thời điểm hiện tại diện tích đất trồng cà phê trồng cả năm của huyện là 274 ha.

Nhận xét chung

Thành tích nổi bật của ngành nông nghiệp trong những năm qua là sản xuất lương thực vẫn ổn định và phát triển. Sản lượng lương thực có hạt năm 2010 đạt 35.338 tấn.

Đã hình thành các vùng chuyên canh. Trồng trọt đã có sự phát triển đúng hướng, từng bước gắn sản xuất với thị trường bằng việc phát triển các loại cây có thị trường tiêu thụ ổn định như cam, mía, ca fê...

Trong lĩnh vực trồng trọt, huyện đã tập trung đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong tưới tiêu, giống, phân bón, chuyển giao khoa học kỹ thuật, bên cạnh đó công tác khuyến nông cũng được triển khai tốt nên năng suất cây trồng ngày một tăng nhanh.

Bước đầu đã sự gắn kết giữa sản phẩm nông sản với công nghiệp chế biến quy mô nhỏ ở khu vực nông thôn. Nhiều giống mới, năng suất cao đã được chuyển giao cho nông dân mang lại hiệu quả cao trong trồng trọt.

*Chăn nuôi:

Cho đến nay chăn nuôi luôn là một ngành quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của huyện Nghĩa Đàn. Vật nuôi chủ yếu trên địa bàn huyện là trâu, bò, lợn, dê và gia cầm. Trong những năm vừa qua với phong trào thực hiện chương trình “nạc hoá’’ đàn lợn và “Sind hoá’’ đàn bò, đang hình thành các hộ chăn nuôi theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp, tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi khá ổn định về số lượng và chất lượng.

Ngành chăn nuôi của huyện chủ yếu cung cấp nhu cầu thực phẩm cho huyện và thành phố Vinh. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của một huyện ngoại thành. Những năm trước, dịch lở mồm - long móng trên cả nước diễn biến rất phức tạp, nguy cơ bùng phát dịch cúm gia cầm rất cao. Song được sự quan tâm chỉ đạo của ngành Nông nghiệp cấp trên, huyện Nghĩa Đàn đã làm tốt công tác Thú y. Tính đến năm 2010:

+ Tổng đàn bò 12.090 con

+ Tổng đàn trâu 24.150 con

+ Tổng đàn dê 12.000 con

+ Tổng đàn lợn: 47.590 con

+ Tổng đàn gia cầm: 585.100 con

Hiện tại các ngành chức năng đã chỉ đạo thực hiện dự án chăn nuôi Bò sữa công nghệ cao tiến triển hết sức thuận lợi. Quan tâm chỉ đạo phòng chống dịch cho gia súc gia cầm. Đặc biệt không ảnh hưởng đến Dự án của TH khi phát hiện dịch lở mồm long móng tại các xã Nghĩa Lạc, Nghĩa Lộc, Nghĩa Trung, Nghĩa Bình. ủy ban nhân dân huyện đã tập trung chỉ đạo làm tốt công tác khoanh vùng dập dịch trên đường mòn HCM, tại xã Nghĩa Lâm để tránh lây lan. Dự án chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp của công ty TH đã cho sản phẩm ước đạt 14.781 tấn sữa.

*Thuỷ sản:

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện là 327,64 ha. Do thời tiết hạn kéo dài nên ảnh hưởng đến năng suất, tổng sản lượng nuôi trồng đạt 1.843 tấn. Trong thời điểm hiện tại khi mà dịch cúm gia cầm tiếp tục gây ảnh hưởng đến kinh tế của các hộ nông dân thì việc năng suất và sản lượng cá đạt cao, cộng với việc giá bán cao đã giúp người nông dân phần nào giảm bớt khó khăn trong nuôi trồng thuỷ sản.

Trong năm 2009, ủy ban nhân dân huyện đã hoàn thành công tác hỗ trợ cá giống cho các hộ bị thiệt hại do mưa lũ. Triển khai các chương trình hỗ trợ phát triển thủy sản năm 2010, trợ giá, trợ cước cá giống, chuyển đổi diện tích trồng màu kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản.

2. Kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển, năm 2010 phát triển thêm 7 trang trại lũy kế, đến nay toàn huyện đã có 80 trang trại, với chính sách hỗ trợ của tỉnh đã từng bước khắc phục được khó khăn về vốn, giống, khâu tiêu thụ sản phẩm thuận lợi góp phần nâng cao đời sống của các thành viên.

*Lâm nghiệp:

Theo kết quả điều tra, toàn huyện Nghĩa Đàn có 22.674,29 ha đất lâm nghiệp. Sau thời gian chăm sóc và bảo vệ rừng, nguồn tài nguyên rừng trên địa bàn huyện đã dần được phục hồi, tuy nhiên trữ lượng gỗ cũng như là các loài động vật quý còn rất hạn chế về chủng loài và số lượng. Hiện nay, ngoài khai thác gỗ, củi người dân còn khai thác măng, nấm hương, mộc nhĩ, mật ong… đây là những lâm sản chủ yếu mà người dân khai thác được từ rừng đã góp phần nâng cao đời sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân. Hàng năm trên địa bàn huyện trồng được khoảng 800 – 1.000 ha, trong đó chủ yếu là cây nguyện liệu.

Công tác giao khoán đất rừng được thực hiện tốt, đến nay có khoảng 90,1% diện tích đất lâm nghiệp đã có các chủ rừng quản lý, với 5.600 hộ gia đình được nhận khoán lớn nhất là các hộ gia đình chiếm khoảng 46,8%, tiếp đến là các tổ chức kinh tế chiểm khoảng 34,9%, ủy ban nhân dân xã quản lý chiếm 18%....

Với hiện trạng đất lâm nghiệp như trên, hoạt động ngành lâm nghiệp trên địa bàn huyện từ nhiều năm nay chủ yếu tập trung cho khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng. Tiểm năng khai thác lâm sản không đáng kể khoảng 7.000 – 10.000m3 gỗ rừng trồng, 200.000 – 250.000 Ste củi và khoảng 20.000 cây tre nứa/năm.

3. Khu vực kinh tế công nghiệp

a. Tốc độ tăng trưởng

Năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ước đạt 201.442 triệu đồng tăng 33,13% so với cùng kỳ. Đây là năm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp có mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây. Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp, các nghề truyền thống và nghề tiểu thủ công nghiệp đang được phục hồi và phát triển như mộc dân dụng, mỹ nghệ,... giá trị sản xuất đạt khá cao và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu.

b. Cơ cấu công nghiệp – TTCN

Cơ cấu công nghiệp – TTCN huyện Nghĩa Đàn thiên về công nghiệp nhỏ và tiểu thủ công nghiệp, tập trung chủ yếu vào một số ngành công nghiệp như công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác...

Hiện tại trên địa bàn huyện có 3 cơ sở khai thác đá và chế biến đá Puzơlan đã được đầu tư xây dựng đó là: Công ty Nguyên Lộc – Sông Đà 2 công suất 750.000 tấn/năm tại Nghĩa Sơn, Công ty Việt Á công suất 49.000 tấn/năm tại Nghĩa Bình, Công ty Khoáng sản Nghệ An công suất 40.000 tấn/năm tại Nghĩa Lâm.

Công nghiệp khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng có Nhà máy gạch Tuynel công suất 10 triệu viên/năm của công ty Thắng Lợi ở Nghĩa Liên, Nhà máy của công ty Cổ phần VLXD Nghĩa Lộc công suất 10 triệu viên/năm, Công ty kính Tràng An sản xuất gạch Tuynel công suất 40,0 triệu viên/năm tại Nghĩa Hồng. Ngoài ra các lò thủ công truyền thống có tổng công suất hàng năm khoảng 50 triệu viên. Bên cạnh đó có 7 Công ty khác đá xây dựng với công suất 40.000 – 50.000 m3/năm như Công ty Trùng Dương, Công ty Tân Thành, Công ty Trung Quảng Đại, Công ty Chính Thảo...

Toàn huyện có khoảng 836 cơ sở sản xuất công nghiệp, TTCN trong đó có 8 cơ sở khai thác đá, 6 cơ sở sản xuất gạch ngói, 51 cơ sở cơ khí nhỏ, 180 cơ sở rèn, mộc và 591 cơ sở xay xát, may mặc và ngành nghề khác.

c. Phát triển khu công nghiệp

Trong những năm tới, với việc hình thành một số khu, cụm công nghiệp như Khu công nghiệp Đông Hội (340,0 ha); cụm công nghiệp nhỏ Nghĩa Long (30,0 ha); cụm công nghiệp nhỏ Nghĩa Lâm (20,0 ha) sẽ thúc đẩy giá trị sản xuất ngành công nghiệp của huyện sẽ tăng cao hơn nữa. Đồng thời tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư; làm việc với các tập đoàn kinh tế mạnh trong nước, các tổ chức để tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư, sử dụng đất hiệu quả, ít gây ô nhiễm môi trường.

Khuyến khích thu hút các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển Công nghiệp - TTCN và dịch vụ nông thôn, làng nghề, sử dụng lao động tại chỗ. Thu hút mạnh các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như may, vật liệu xây dựng, đồ gỗ…Ổn định hoàn thiện các mô hình hiện có, thích hợp với cơ chế mới, hoạt động có hiệu quả, phối hợp với các sở, ngành mở các lớp tập huấn kiến thức quản lý doanh nghiệp quản lý kinh tế và đào tạo nghề.

d. Phát triển làng nghề

Chổi đót thôn Hòa Hội, Nghĩa Đàn nổi tiếng từ lâu. Công việc ổn định tạo thu nhập tốt cho người dân và là một làng nghề truyền thống (được công nhận tháng 2/2007), đang từng ngày khởi sắc.

Thôn Hòa Hội có 118 hộ thì có đến hơn 100 hộ dân chuyên làm chổi đót. Diện tích tự nhiên chỉ có khoảng 12,5 ha đất nông nghiệp sản xuất 2 lúa cho 545 người. Đất 1 lúa khoảng 30 ha, nhưng không có nước để ổn định sản xuất, nên làm chổi được xem là nghề chính từ nhiều năm nay, chiếm tới 70% thu nhập của cả thôn.

Hiện nay, nhiều hộ mạnh dạn vay vốn khuyến nông, vốn chính sách huyện để mở các đại lý làm và thu mua chổi. Hội Phụ nữ xã có kiến nghị với Ngân hàng Chính sách huyện giải ngân vốn cho các chị em có nhu cầu vay vốn để phát triển kinh tế. Thôn cũng xin xã liên hệ với Phòng Nông nghiệp huyện mở các lớp tập huấn để nâng cao tay nghề cho chị em làm chổi, lập đề án thành lập Hợp tác xã để tập trung sản xuất chuyên nghiệp hơn.

4. Khu vực kinh tế dịch vụ

Trong những năm gần đây ngành dịch vụ thương mại phát triển tương đối mạnh, tổng giá trị sản xuất đạt 141.421 triệu đồng, chiếm 20,32% tỷ trọng cơ cấu kinh tế chung.

Nguồn thu từ hoạt động của ngành thương mại dịch vụ ở Nghĩa Đàn chủ yếu từ dịch vụ thương mại, dịch vụ vận tải, dịch vụ vật tư phân bón, dịch vụ xăng dầu và bán buôn bán lẻ... Các dịch vụ khác như nhà hàng, khách sạn và du dịch chưa phát triển.

Huyện Nghĩa Đàn có vị trí giao thông rất thuận lợi nhưng cơ sở phục vụ cho hoạt động thương mại của huyện chưa phát triển kịp.

Hiện tại huyện chưa có trung tâm thương mại, toàn huyện có 10 cửa hàng bán lẻ xăng dầu, có 20 chợ/24 xã, trong đó có chợ Nghĩa Hội được xem là chợ kiên cố, còn lại là bán kiên cố và chợ tạm. Do vậy kết quả hoạt động thương mại khá khiêm tốn. Tổng mức bán lẻ năm 2010 ước đạt 220.730 triệu đồng.

Công tác quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực thương mại tiếp tục được tăng cường. Hoạt động kinh tế ngoài quốc doanh tiếp tục được phát huy có hiệu quả, mạng lưới doanh nghiệp phát triển tốt. Toàn huyện có 1.208 cơ sở kinh doanh trong đó có 27 doanh nghiệp và 1.181 cơ sở kinh doanh cá thể.

Bên cạnh đó hoạt động ngân hàng và các dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông cũng đang trên đà phát triển mạnh. Hàng năm trên địa bàn huyện nhu cầu vận chuyển hành khách cũng như hàng hóa ra vào rất lớn. Trong đó đáng kể là sản phẩm nông – lâm nghiệp, vật liệu xây dựng, khoáng sản.

Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn[sửa | sửa mã nguồn]

1. Thực trạng phát triển đô thị

Nghĩa Đàn đang trong giai đoàn hình thành Thị trấn Nghĩa Đàn và 24 xã. Cơ cấu dân số huyện Nghĩa Đàn mang đậm nét đặc thù của một huyện miền núi. Hiện nay, hệ thống cơ sở hạ tầng, các khu chức năng đô thị đã dần hoàn thiện. Bộ mặt đô thị có bước chuyển biến rõ rệt. Khối lượng xây dựng nhà ở, công trình công cộng, cơ sở hạ tầng… cũng tăng lên khá nhanh. Ở khu vực này, dịch vụ thương mại phát triển mạnh đã góp phần quan trọng trong việc tăng giá trị sản xuất của huyện.

Tuy nhiên, có thể thấy, diện tích đô thị của huyện mới bắt đầu hình thành, kiến trúc không gian dân cư đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết. Các khu nhà trong thị trấn hầu hết đều do nhân dân tự xây dựng bám theo các trục đường chính, đường nội khu vực… gây khó khăn cho công tác quy hoạch cũng như vấn đề giải phóng mặt bằng làm ảnh hưởng chung mỹ quan đô thị.

Trong giai đoạn tới, để hoàn chỉnh hệ thống đô thị của huyện, xứng đáng với vai trò là trung tâm, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cần thiết phải mở rộng quy mô, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình phúc lợi công cộng.

2. Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn

Do đặc điểm lịch sử hình thành và phát triển, các khu dân cư nông thôn trên địa bàn huyện được phát triển theo những hình thái khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và mức độ phân bố trong từng khu vực. Các tụ điểm dân cư truyền thống (như làng, thôn, xóm...) được hình thành với mật độ tập trung đông ở những nơi có giao thông thuận tiện, dịch vụ phát triển, các trung tâm kinh tế văn hoá của xã.

Hệ thống cơ sở hạ tầng trong khu dân cư nông thôn mặc dù đã được quan tâm đầu tư song còn nhiều hạn chế do nguồn kinh phí hạn hẹp. Với quy luật gia tăng dân số, nhu cầu về đất ở không ngừng tăng lên. Trong tương lai việc mở rộng thêm đất ở để đáp ứng nhu cầu trên là thực tế khách quan không thể tránh khỏi, nhưng cần phải có sự điều chỉnh hợp lý các khu dân cư hiện có cũng như phải hạn chế tối đa việc lấy đất nông nghiệp vào làm nhà ở nhất là những khu vực ruộng cho năng suất cao. Đây là những vấn đề cần được quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế lâu dài của huyện.

Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

1.Giao thôngNghĩa Đàn

Do đặc thù về vị trí địa lý, hệ thống giao thông của huyện Nghĩa Đàn tương đối phong phú bao gồm: Giao thông đường bộ và giao thông đường thuỷ. Tuy vậy, giao thông đường bộ vẫn là mạng giao thông chủ yếu của huyện.

a. Đường bộ

- Có hai trục giao thông chính là đường Hồ Chí Minh đã được rải thảm giai đoạn 1 (đoạn qua Nghĩa Đàn dài 32 km) và quốc lộ 48 (đoạn qua huyện Nghĩa Đàn dài 7 km) đã được nâng cấp, rải nhựa, cắt dọc, ngang giữa huyện và tỏa ra theo 4 hướng.

+ Phía Đông, theo Quốc lộ 48 qua vùng phía Tây Bắc huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, gặp Quốc lộ IA tại Yên Lý.

+ Phía Tây, theo Quốc lộ 48 lên cửa khẩu Thông Thụ (Quế Phong).

+ Phía Nam, theo đường Hồ Chí Minh qua huyện Tân Kỳ, gặp Quốc lộ 7 ở Khai Sơn huyện Anh Sơn).

+ Phía Bắc, theo đường Hồ Chí Minh ra tỉnh Thanh Hóa.

- Đường Quốc lộ 15A, từ xã Nghĩa Sơn, qua Nghĩa Minh, cắt sông Hiếu tại phường Quang Phong (thị xã Thái Hòa), đi trùng Quốc lộ 48 đến Đông Hiếu, qua Nghĩa Long, Nghĩa Lộc, sang Tân Kỳ, dài khoảng 23 km, đã được trải nhựa.

- Tỉnh lộ 545: tiếp nối Quốc lộ 15A tại thị xã Thái Hòa, qua Nghĩa An, Nghĩa Khánh sang huyện Tân Kỳ. Đoạn Nghĩa Đàn dài 18 km, nền đường 6,5 – 7,5 m; mặt đường từ 3,5 – 5,5 m đã được trải nhựa.

- Đường tỉnh lộ 598 như một vòng cung thông suốt giữa các xã vùng cao ở vòng ngoài phía Tây – Nam, Tây- Bắc và Đông – Bắc của 3 tiểu vùng, bắt đầu ở Nghĩa Khánh và kết thúc ở Nghĩa Lợi. Toàn tuyến dài khoảng 70 km, hầu hết là đường cấp phối, còn lại được trải nhựa.

- Có 20 tuyến đường huyện với tổng chiều dài 236,9 km. Các tuyến đường này chủ yếu là đường đất (173,4 km) và đường cấp phối hoặc đường trải đá dăm (53,5 km), chỉ có 10 km thuộc 4 tuyến nối với thị xã Thái Hòa được cán nhựa tiêu chuẩn 3,5 – 5 kg/m². 100% tuyến đường đạt tiêu chuẩn từ đường cấp 5 đến loại A đường giao thông nông thôn (nền rộng 6,5 m; mặt rộng 5m).

- Ngoài ra trong huyện còn có 17 tuyến đường xã với tổng chiều dài khoảng 89 km, trong đó có 43,2 km đã được cấp phối, còn lại là đường đất; có 306 tuyến đường liên thôn tổng chiều dài 802,7 km, gần 50% đang là đường đất. Các tuyến đường liên thông với các trục giao thông chính, tạo mạng lưới vận chuyển vật tư, hàng hóa thông suốt đến hầu khắp các thôn xóm.

Nhìn chung hệ thống giao thông có trong huyện tương đối đồng bộ, trước mắt đang được tiếp tục nâng cấp sửa chữa nên khai thác sử dụng tốt; tuy nhiên để tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì các tuyến giao thông nói trên đều cần được nâng cấp lên ở cấp độ mới, nhất là các tuyến đường vào thị trấn huyện.

b. Đường sông

Mạng lưới đường sông huyện Nghĩa Đàn có tổng chiều dài là 44 km chủ yếu là sông Hiếu. Đây cũng là một trong những thế mạnh góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế của huyện. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của bãi bồi, độ sâu cũng như chiều rộng lòng sông và hệ thống đập tràn... làm cản trở di chuyển bằng đường sông. Thực tế trong những năm qua việc khai thác giao thông đường thuỷ để phát triển kinh tế ít được quan tâm và đầu tư đúng mức.

Nhận xét chung về hệ thống giao thông

Huyện Nghĩa Đàn có cả giao thông đường thuỷ và đường bộ thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Nhưng nhìn chung chất lượng thấp, một số tuyến còn khó khăn trong việc đi lại vào mùa mưa.

Việc phát triển các phương tiện giao thông còn chậm so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Một số phương tiện vận chuyển cũ, không an toàn và gây ô nhiễm môi trường.

Thủy lợi, nước sinh hoạt[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Nghĩa Đàn có 113 công trình hồ đập, 21 trạm bơm cùng 441 km kênh mương, trong đó đã được xây dựng kiên cố 210,7 km. Hầu hết các công trình hồ chứa có quy mô nhỏ, dung tích hữu ích dưới 200.000 m3, năng lực tưới thiết kế dưới 40 ha và được xây dựng những năm 80 về trước của thế kỷ trước. Một số ít công trình có quy mô trên 700.000 m3, như:

Hồ Sông Sào (Nghĩa Bình), có dung tích 51,42 triệu m3, là hồ chứa lớn thứ 2 của tỉnh (sau hồ Vực Mấu ở Quỳnh Lưu). Diện tích tưới thiết kế 5.562 ha, trong đó tưới tự chảy 2.285 ha. Hiện tại hệ thống kênh mương chưa xây dựng xong.

- Hồ Khe Canh (Nghĩa Yên), xây dựng năm 1983 – 1987, dung tích 4,2 triệu m3, năng lực tưới thiết kế 300 ha, tưới thực tế 65 ha.

- Hồ Khe Đá vừa mới được cải tạo nâng cấp lên 6 triệu m3, mở rộng thân đập và xây tường chắn sóng bảo vệ đập trong mùa mưa lũ, công trình này chủ yếu cung cấp nước tưới cho huyện Tân Kỳ.

Nhìn chung do phần lớn công trình thủy lợi trong huyện là công trình nhỏ, đã xuống cấp, hệ thống kênh mương mới được xây dựng kiên cố khoảng 167 km (chiếm 37,9%). Tổng diện tích tưới thực tế khoảng 2.249 ha, mới đạt khoảng 37,3% diện tích so với thiết kế (riêng các công trình hồ chứa hiệu suất tưới chỉ đạt 34,2% so với thiết kế). Diện tích tưới chủ yếu là lúa, các cây trồng khác có diện tích được tưới không đáng kể.

Nước sinh hoạt nông thôn: Nguồn sinh hoạt chính của huyện được khai thác từ nguồn nước mặt từ các hồ chứa và nước ngầm qua giếng khơi. Một số cụm dân cư có nước tự chảy: Làng Giàn, Làng Cáo (Nghĩa Mai); xóm 13 (Nghĩa Trung); làng Mồn (Nghĩa Lạc)…

Nhìn chung các nguồn nước phục vụ sinh hoạt hầu hết chất lượng chưa thực sự phù hợp với tiêu chuẩn nước sạch theo tiêu chí của ngành Y tế. Nhất là với các cụm dân cư còn sử dụng nước ao hồ, rất dễ có nguy cơ nhiễm bẩn thuốc bảo vệ thực vật hoặc do các tạp chất hữu cơ. Trong đó, một vận nạn do tình trạng nguồn nước bị ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tại xóm 1, 2 xã Nghĩa Trung – là “Vùng báo động đỏ”. Hiện tại toàn huyện hiện có khoảng 62,2% dân số được dùng nước hợp vệ sinh.

Hệ thống Điện[sửa | sửa mã nguồn]

Lưới điện của Nghĩa Đàn nằm trong hệ thống cấp điện chung của tỉnh, được cấp qua trạm 110 kv (Thái Hòa) công suất 1 × 16 MVA, điện áp 110/35/10 KV, hiện tại đang cung cấp điện cho toàn bộ thị xã Thái Hòa và huyện Nghĩa Đàn; một phần của huyện Quỳnh Lưu, Quỳ Hợp và huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa.

Đến nay 24/24 xã, 100% thôn (bản) đã được dùng lưới điện Quốc gia, 100% số hộ ở Nghĩa Đàn được dùng điện.

Tại các xã có 99 trạm biến áp 35/0,4 kv, và 10/0,4 kv, 156 km đường dây cao thế, 434,044 km đường dây hạ thế. Nhìn chung các tuyến đường dây tải điện ở Nghĩa Đàn đã được xây dựng từ lâu, có tuyến trên 20 năm, tiết diện đường dây trục nhỏ (AC – 50), dài, lại cấp điện cho nhiều trạm biến áp nên độ an toàn không cao, hay xảy ra sự cố vào mùa mưa bão hay vào thời gian cao điểm.

Bưu chính viễn thông[sửa | sửa mã nguồn]

Xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của ngành Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước; thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp. Uỷ ban nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã luôn luôn quan tâm, chỉ đạo ngành Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin huyện thực hiện tốt nhiệm vụ được giao như doanh thu, phát triển mạng lưới, lắp mới tủ, hộp cáp các loại, công tác duy tu bảo dưỡng…

Tại 24 cơ sở xã, đã có bưu điện văn hóa được đầu tư xây dựng đảm bảo quy mô tiêu chuẩn và hiện đang phát huy tác dụng tốt, hệ thống truyền thanh – truyền hình được phát miễn phí trên toàn địa bàn với thời lượng hợp lý, nội dung thiết thực, chất lượng hình ảnh, âm thanh đảm bảo.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • http://www.nghiadan.gov.vn
  • Nghị quyết 96/NQ-CP năm 2011 điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập thị trấn Nghĩa Đàn thuộc huyện Nghĩa Đàn và mở rộng địa giới hành chính thị trấn Thanh Chương thuộc huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.