Nguyễn Thiếp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Thiếp (chữ Hán: 阮浹, 1723 - 1804), là nhà giáo và là danh sĩ cuối đời Hậu LêTây Sơn trong lịch sử Việt Nam.

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông vốn có tên húy là Minh, tự là Quang Thiếp, sau vì kiêng húy vua chúa nên đổi là Thiếp [1]. Ngoài ra, ông còn có rất nhiều tên tự hay tên hiệu, hoặc do ông tự đặt, hoặc do người đương thời xưng tặng, chẳng hạn như: Khải Xuyên (có sách chép là Khải Chuyên), Hạnh Am, Điên ẩn, Cuồng ẩn, Lạp Phong cư sĩ, Hầu Lục Niên, Lam Hồng dị nhân, Lục Niên tiên sinh, La Giang phu tử,...[1]. Riêng Nguyễn Huệ (tức vua Quang Trung) gọi ông là La Sơn phu tử, là La Sơn tiên sinh [2].

Thuỷ tổ của ông là người quê ở Cương Gián (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), lấy vợ lẽ, rồi lập chi họ Nguyễn ở xã Nguyệt Ao (hay Áo, còn gọi là Nguyệt Úc), tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (nay là xã Kim Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh)[2]. Và ngày 25 tháng 8 năm Quý Mão (1723), Nguyễn Thiếp đã ra đời tại đây.

Lúc nhỏ, ông và ba anh em trai nhờ mẹ chăm sóc và chú là Tiến sĩ Nguyễn Hành rèn dạy nên đều học giỏi. Năm 19 tuổi (khi ấy Nguyễn Hành đang làm Hiến sát sứ Thái Nguyên), ông ra đó học, rồi được chú gửi cho bạn thân là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm (cha của thi hào Nguyễn Du) dạy dỗ thêm [3]. Tuy nhiên, chưa được một năm thì chú Nguyễn Hành đột ngột mất ở lỵ sở, Nguyễn Thiếp trở về nhà [4]. Năm sau, ông dự thi HươngNghệ An đỗ thủ khoa[5], nhưng không ở lại dự thi Hội mà đi ở ẩn.

Năm Mậu Thìn (1748), ông ra Bắc dự thi Hội, nhưng chỉ vào đến tam trường (kỳ 3) [6]. Sau đó ông vào Bố Chính dạy học.

Năm Bính Tuất (1756), lúc này đã 33 tuổi, Nguyễn Thiếp được bổ làm Huấn đạo (chức quan trông coi việc học trong một huyện) ở Anh Đô (phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Ở đó 6 năm, ông được đổi làm Tri huyện Thanh Giang (nay là Thanh Chương, Nghệ An) [7].

Năm Mậu Tý (1768), ông xin từ quan về ở ẩn tại trại Bùi Phong trên dãy Thiên Nhẫn.

Năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh, có sai người đưa thư và vàng lụa lên sơn trại mời ông ra giúp việc nhưng ông từ chối.

Tháng 4 năm Mậu Thân (1788), trên đường ra Thăng Long trừ Vũ Văn Nhậm, tướng Nguyễn Huệ lại gửi thư mời ông xuống hội kiến ở Lam Thành, lời thư rất tha thiết, nên ông đành xuống núi nhưng vẫn chưa chịu ra giúp [2].

Cuối năm 1788, sau khi lên ngôi Hoàng đế tại núi Bân (Huế), vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) kéo quân ra Bắc, đến Nghệ An nghỉ binh, nhà vua lại triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi kế sách đánh đuổi quân Thanh xâm lược, Nguyễn Thiếp nói: "Người Thanh ở xa tới mệt nhọc không biết tình hình khó dễ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch, nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó"[2]. Lời tâu này rất hợp ý vua.

Sau đại thắng vào đầu xuân Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung về đến Nghệ An lại mời Nguyễn Thiếp đến bàn quốc sự.

Năm 1791, vua Quang Trung lại cho mời ông vào Phú Xuân để bàn việc nước. Vì cảm thái độ chân tình ấy, nên lần này ông đã nhận lời (trước đó ông đã từ chối 3 lần). Đến gặp, ông đã dâng lên vua Quang Trung một bản tấu bàn về 3 vấn đề: Một là "Quân đức" (đại ý khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền để trị nước); hai là "Dân tâm" (đại ý khuyên vua nên dùng nhân chính để thu phục lòng người), và ba là "Học pháp" (đại ý khuyên vua chăm lo việc giáo dục). Tuy là ba, nhưng chúng có quan hệ mật thiết với nhau và đều lấy quan niệm "dân là gốc nước" làm cơ sở. Nguyễn Thiếp viết: "Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yên"[8].

Những lời tấu ấy được nhà vua nghe theo. Ngày 20 tháng 8 (1791), nhà vua ban chiếu lập "Sùng chính Thư viện" ở nơi ông ở ẩn và mời ông làm Viện trưởng [9]. Kể từ đó, ông hết lòng chăm lo việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để dạy học và phổ biến trong dân. Chỉ trong hai năm, ông đã tổ chức dịch xong các sách: Tiểu học, Tứ thư, Kinh Thi, và chủ trì biên soạn xong hai bộ sách là Thi kinh giải âmNgũ kinh toát yếu diễn nghĩa [10].

Tháng 9 năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung đột ngột băng hà, sự nghiệp của Nguyễn Thiếp đành dở dang.

Năm Tân Dậu (1801), vua Cảnh Thịnh (con vua Quang Trung) có mời ông vào Phú Xuân để hỏi việc nước. Đang ở nơi ấy, thì kinh thành mất vào tay chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau là vua Gia Long). Nghe vị chúa này tỏ ý muốn trọng dụng, ông lấy cớ già yếu để từ chối, rồi xin về [11].

Ngày 6 tháng 2 năm 1804 (Quý Hợi), danh sĩ Nguyễn Thiếp không bệnh mà mất[12], thọ 81 tuổi, và được an táng tại nơi ông ở ẩn.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Nguyễn Thiếp gồm có:

  • La Sơn tiên sinh thi tập: có hơn 100 bài, có tựa của tác giả (theo Phan Huy Chú). Trần Văn Giáp cho biết bản này hiện đã không còn tìm thấy, và theo ông thì nó còn có tên là Hạnh Am thi cảo. Trong cuốn La Sơn phu tử của GS. Hoàng Xuân Hãn có công bố quyển này (gồm 84 bài thơ chữ Hán, có phụ chép một số câu đối, thơ Nôm và các chiếu biểu, do một người vô danh sưu tầm được), và theo như giáo sư nói là "không chắc còn nguyên bản".
  • Hạnh Am di văn: gồm một số bài văn của Nguyễn Thiếp phúc đáp, cáo từ, trần tình, tạ ơn, v.v...gửi vua Quang Trung. Hiện bản này có trong Thư viện Khoa học xã hội, ký hiệu VHb. 212.

Ngoài ra, theo GS. Nguyễn Lộc trong Từ điển văn học (bộ mới), thì ông còn có: Hạnh Am ký (Ghi chép của Hạnh Am, 1782), Thích Hiên ký (Ghi chép ở Thích Hiên, 1786), bài viết đề ở gia phả, và đề tựa Thạch Động thi tập của Phạm Nguyễn Du...[13].

Nhận xét (sơ lược)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nghèo, mẹ già, con đông[14]; nhưng ông không muốn ra làm quan để kiếm chút bổng lộc, mà chỉ thích ở ẩn. Tuy nhiên, đọc Hạnh Am thi thảo, bên cạnh những bài ca ngơi thú ẩn dật, vẫn thấy tấm lòng của ông gắn bó với đời, với quê hương, và than thở cho cảnh suy vi của thế thái nhân tình...[15]. Nhìn chung, thơ ông giản dị, mộc mạc, được Phan Huy Chú khen là "thơ đều tao nhã thanh thoát, lý thú thung dung, thực là lời nói của người có đức, các tao nhân ngâm khách (khác) không thể sánh được" (Văn tịch chí) [16].

Thông tin liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Nền nhà Sùng chính Thư viện hiện còn lưu tại núi Bùi Phong với ngổn ngang gạch xây, đá ong... Di tích còn lại duy nhất là bức tường gạch có khoét hình nguyệt. Ở đó, có thể nhìn ngắm Lục Niên Thành (tòa thành của Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa chống Minh) và đập Lục Niên xanh trong. Bên cạnh phế tích, là khu mộ của Nguyễn Thiếp và bà chính thất họ Đặng (song táng) đã được xếp hạng là "di tích cấp Quốc gia" [8].

Sau ngày đỗ đại khoa (Tiến sỹ - 1898) Nguyễn Văn Trình có đến nhà thờ Nguyễn Thiếp (ở xã Kim Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) cúng tặng câu đối:

六 年 夫 子 興 中 國

三 世 曾 孫 拜 外 家

phiên âm:

Lục Niên phu tử hưng trung quốc

Tam thế tằng tôn bái ngoại gia

Phỏng dịch:

Phu tử Lục Niên chấn hưng đất nước

Cháu chắt sáu đời kính bái ngoại gia

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 3). Nxb Khoa học xã hội, 1992.
  • Nguyễn Lộc, mục từ "Nguyễn Thiếp" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004.
  • Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nxb Khoa học xã hội, 2003.
  • Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, 1992.
  • Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (tập 2). Nxb Hồn Thiêng, Sài Gòn, 1967.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 650.
  2. ^ a ă â b Theo bài viết về Nguyễn Thiếp trên Hà Tĩnh online [1].
  3. ^ Theo GS. Trịnh Vân Thanh (sách ở mục tham khảo, tr. 863) và thông tin trên Hà Tĩnh online [2].
  4. ^ Theo bài viết trên Hà Tĩnh online, thì "sau khi chú Nguyễn Hành mất đột ngột, Nguyễn Thiếp phát bệnh cuồng, được một cụ già đưa về nhà chữa trị, sau đó mới về được đến nhà". Tuy nhiên, trong các sách ở mục tham khảo, đều không thấy chép.
  5. ^ Theo Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (tập 3, tr. 158).
  6. ^ Dự thi Hội, thí sinh phải đỗ cả 4 kỳ mới được công nhận là trúng cách thi Hội, tức đạt được học vị Hương cống (Cử nhân). Xem chi tiết ở mục: Thi Hội.
  7. ^ Theo Phan Huy Chú, sách đã dẫn, tr. 158.
  8. ^ a ă Xem: [3].
  9. ^ Theo tờ chiếu của vua Quang Trung ban ngày 20 tháng 8 (1791), thì Viện sùng chính được dựng ở núi Bùi Phong, xã Nam Hoa (nay thuộc xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Sau khi diệt được nhà Tây Sơn, vua Gia Long đã ra lệnh tiêu huỷ hết các công trình của triều Tây Sơn, trong đó có công trình này. Xem chi tiết ở đây: [4].
  10. ^ Theo Lê Văn Hảo, "Thời Tây Sơn và 15 năm văn hóa Phú Xuân". Bản điện tử: [5]).
  11. ^ GS. Trịnh Vân Thanh, sách ở mục tham khảo, tr. 864.
  12. ^ Thông tin "Không bệnh mà mất", biên theo PGS. Nguyễn Thạch Giang, tr. 456.
  13. ^ Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1188.
  14. ^ Theo PGS. Nguyễn Thạch Giang (tr. 456)
  15. ^ Nguyễn Lộc, sách đã dẫn, tr. 1188.
  16. ^ Lịch triều hiến chương loại chí (tập 3), tr. 158.