Tàu ngầm lớp Sava

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khái quát về lớp tàu
Xưởng đóng tàu: Split Shipyard
Bên sử dụng: Hải quân Nam Tư
Lớp trước: Tàu ngầm lớp Heroj
Thời gian đóng: 1975-1981
Thời gian hoạt động: 1980-2004
Hoàn tất: 2
Bỏ không: 2
Nghỉ hưu: 2
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu ngầm
Trọng tải choán nước: 830 tấn khi nổi, 960 tấn khi lặn
Độ dài: 55,7 m
Sườn ngang: 7,2 m
Mớn nước: 5,1 m
Động cơ đẩy: 2 trục chân vịt, 2 động cơ diesel MTU (1600 mã lực), 2 mô tơ điện (1560 mã lực)
Tốc độ: 10 knot khi nổi, 16 knot khi lặn
Tầm xa: 9700 hải lý với 8 knot
Tầm hoạt động: 28 ngày
Độ sâu thử: ~ 305 m
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
27
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Ra đa: Snoop Group; Hệ thống sóng âm: Krupp Atlas PRS 3, Thomson Sintra
Thiết bị chiến đấu điện tử
và nghi trang:
ECM Stop Light
Vũ trang: 6 ống ngư lôi 533 mm phía trước, 10 ngư lôi hoặc 20 thủy lôi

Tàu ngầm lớp Sava là loại tàu ngầm điện-diesel cuối cùng do Nam Tư chế tạo trong những năm 1970. Nó là phiên bản cải tiến của tàu ngầm lớp Heroj, lớp tàu ngầm này có tính năng tự động hóa cao hơn giúp giảm số lượng thủy thủ đoàn từ đó giảm kích thước của tàu, nhưng vẫn giữ được các đặc tính chiến thuật và kỹ thuật. Từ năm 1975 đến 1981 xưởng đóng tàu tại Split đã đóng hai chiếc tàu ngầm thuộc lớp này và theo truyền thống chúng được đặt tên theo các con sông tại Nam Tư. Hệ thống điện tử và vũ khí được chuyển giao từ Liên Xô. Sau khi Nam Tư tan rã năm 2003 hai chiếc được chia cho SerbiaMontenegro mỗi nước một chiếc. Chúng vẫn hoạt động trong các hạm đội cho đến năm 2006 sau đó được ra khỏi biên chế.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]