Đàn Tam thập lục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tam thập lục)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tam thập lục là nhạc khí dây, chi gõ của nhạc cụ dân gian Việt Nam. Đàn có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục. Tuy nhiên ngày nay một số nghệ nhân đã cải tiến đàn này bằng cách mắc thêm nhiều dây nữa để đánh được nhiều âm hơn, kể cả những âm nửa cung. Mục đích cải tiến là làm sao để dễ dàng đánh những bài nhạc có nhiều chuyển điệu. Tuy số lượng dây đã vượt quá con số 36 nhưng người ta vẫn quen gọi là đàn tam thập lục. Một số người khác lại gọi nhạc cụ này đàn bướm vì hình dáng của nó giống hình con bướm, có người còn gọi là dương cầm như cách ta thường gọi đàn piano phương Tây.

Tuy có khả năng độc tấu, hòa tấu và đệm nhưng đàn tam thập lục ít phổ biến trong cộng đồng Việt Nam, ngoại trừ một số dàn nhạc chuyên nghiệp sử dụng nhạc cụ này. Đàn tam thập lục có hình thang cân, mặt đàn làm bằng gỗ mềm, hơi vồng lên ở giữa, mặt dưới phẳng. Trên mặt đàn có đặt 2 hàng cầu dây (ngựa đàn). Mỗi hàng cầu dây có từ 16 đến 18 ngựa đàn. Ngựa đàn của 2 hàng đặt so le nhau. Thành đàn làm bằng gỗ cứng. Bên phải là hàng trục dây, bên trái là hàng móc gốc dây.

Các dây đàn đều bằng kim loại nên thanh phát ra trong trẻo, thanh thoát, nghe giống tiếng đàn tranh khi chạy giai điệu ở âm vực cao, tuy nhiên có vẻ khô hơn đàn tranh. Trong những khoảng âm trầm, âm thanh có thể nhòe đi, hòa lẫn vào nhau vi nhạc cụ này không có bộ phận chặn âm. Người ta chỉnh dây của nhạc cụ này theo hệ thống gam nguyên. Nếu là loại cải tiến có dây bổ sung thì những dây đàn giữ nhiệm vụ dây nửa âm, chơi được cả những bản nhạc phương Tây có những nốt nửa cung.

Tất cả dây đàn đều nằm trên 2 hàng 2 cầu dây. Nhìn chung đàn tam thập lục có âm vực trên 2 quãng tám (theo quãng nguyên âm). Loại cải tiến ngày nay có âm vực rộng hơn.

  • Khoảng âm dưới: Tiếng đàn ấm áp, khá vang.
  • Khoảng âm giữa: Tiếng đàn đầy đặn, trong.
  • Khoảng âm cao nhất: Tiếng đàn sắc, gọn.

Khi biểu diễn nhạc công dùng 2 que gõ vào mặt đàn tạo ra các ngón như: Ngón rung, ngón vê, ngón bịt, ngón á, đánh chồng âm, hợp âm...

Đàn Tam thập lục giữ vai trò quan trọng trong các dàn nhạc sân khấu chèo, cải lương. Đàn đệm cho hát, độc tấu, tham gia dàn nhạc dân tộc tổng hợp.